Sonntag, 25. September 2011

Phóng sự - Ký sự










Truyền thuyết về bộ tộc Đan Lai

Đã gần 400 năm trôi qua người Đan Lai sống biệt lập với thế giới bên ngoài. Và vì cuộc sống của họ như những tiều phu du thực nên tất cả phải phù hợp với thiên nhiên để tồn tại. Những ngôi nhà sàn vách nứa không giường, không bàn, không màn, không chiếu...
Từ đập tràn Phà Lài cạnh Đồn Biên phòng 555, chúng tôi ngược dòng sông Giăng đến với bà con dân tộc Đan Lai sống ở độ cao 1.365m so với mực nước biển, trong đại ngàn nguyên sinh, Vườn quốc gia Pù Mát giáp biên giới Việt - Lào, ở xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Sống biệt lập giữa đại ngàn nguyên sinh đã gần 400 năm, chủ yếu săn bắt hái lượm ở chốn sơn cùng thủy tận!...
Sự tích 100 cây nứa vàng và thuyền chèo liền mái
Vào một đêm tối mịt mù, cả dòng họ bị áp bức đã gồng gánh nhau chạy trốn, chạy mãi, chạy mãi đến thượng nguồn dòng sông Giăng sống lẩn trốn trong đại ngàn nguyên sinh hàng trăm năm và một bộ tộc mới ra đời trong bi thương, cùng cực. Sử sách còn ghi lại rằng, sau cuộc phân tranh Lê-Mạc (1533-1592), ở vùng Nghệ Tĩnh các vương triều phong kiến tập quyền đã biến thành lãnh địa tranh chấp quyền lực đẩy thần dân triều Lê Trung Hưng vào cuộc hỗn chiến, biến thần dân thành nạn nhân của hỗn chiến phu phen tạp dịch tô tức cực hình. Lúc này ở miền Hoa Quân (nay thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) có một tên bạo chúa nổi tiếng tàn ác bắt dòng họ La phải tìm cho ra "100 cây nứa bằng vàng, một chiếc thuyền chèo liền mái", nếu không sẽ thảm sát cả họ.
Dưới vòm trời này làm gì có cây nứa bằng vàng, con thuyền liền mái? Thế là trong đêm tối mịt mùng, cả làng họ La  gồng gánh nhau trốn chạy lên núi, họ chạy mãi, chạy mãi đến thượng nguồn con sông Giăng này, nơi không còn nghe thấy tiếng người mới dám dừng chân - một bộ tộc mới ra đời từ đây...
Trong ngôi nhà sàn nằm ẩn mình bên vách núi như chính cuộc sống của họ bao đời nay vẫn thế, Trưởng bản La Văn Đường kể cho chúng tôi nghe về sự ra đời của tộc người bi thương giữa đại ngàn: "Theo như ta biết thì từ "Đan" là do từ Đan Nhiệm, tên làng ngày xưa tổ tiên ta cư ngụ dưới xuôi, còn từ "Lai" là bởi bao thế hệ người Đan Lai chung sống với nhiều cộng đồng các dân tộc khác để che giấu thân phận nên có nhiều nét sống, sinh hoạt bị lai tạp…".
Để sinh tồn, người Đan Lai lại phải vượt ghềnh thác mưu sinh,  người lên rừng chặt nứa, kẻ hái măng về bán cho lái thương. Trẻ em lại không biết đến lớp, trường ngâm mình trong những con khe, con suối. Chán nản, thì giờ rỗi rãi nhiều, họ lại cùng nhau say thâu đêm suốt sáng. Và, tộc người Đan Lai cứ thể luẩn quẩn trong một vòng xoáy không lối thoát.
Nhằm ổn định và bảo tồn nòi giống người Đan Lai, năm 2002 tỉnh Nghệ An đã lập dự án định canh, định cư cho người Đan Lai ở hai bản Cửa Rào và Tân Sơn thuộc xã Môn Sơn. Nhưng đến nay cuộc sống của người Đan Lai vẫn chưa ổn định nhiều người được tái định cư đã bỏ làng quay trở vào bản cũ để sống săn bắt hái lượm.

Bản Cò Phạt nằm khép mình giữa đại ngàn.
Ngủ ngồi, đẻ ngồi và cuộc đời du thực
Đã gần 400 năm trôi qua người Đan Lai sống biệt lập với thế giới bên ngoài. Và vì cuộc sống của họ như những tiều phu du thực nên tất cả phải phù hợp với thiên nhiên để tồn tại. Những ngôi nhà sàn vách nứa không giường, không bàn, không màn, không chiếu, duy chỉ có bếp lửa thức cháy thâu đêm là những gì họ đã sống hàng trăm năm nay.
Trưởng bản La Văn Đường cho biết: "ngàn đời có ai sắm giường nằm đâu mà nằm", rồi với tay lấy thanh củi đen bóng gác trên chạn bếp đầy bồ hóng, rồi chống hai tay vào phía đầu thanh củi tì sát vào trán để ngồi ngủ cho chúng tôi xem. Khi hỏi vì sao lại ngủ ngồi, Trưởng bản La Văn Đường giải thích: "Ngày xưa con khái (hổ) nơi này nhiều vô kể. Nếu mình không cảnh giác là nó vồ ngay, đó là chưa kể quan quân truy lùng bộ tộc có thể đến bất cứ lúc nào nên mới sinh ra ngủ ngồi. Ngủ ngồi là để có thế vùng dậy chạy ngay vào rừng sâu...". Ngủ ngồi cũng có nhiều kiểu. Ngồi đưa hai bàn tay nắm lại đỡ lấy trán để ngủ, hoặc đẽo cây chàm ngàm kê vào dưới cổ để ngủ cho khỏi mỏi, hoặc hai tay nắm chặt đầu thanh củi tì vào trán cũng ngủ được. 
Ngoài ngủ ngồi, người Đan Lai còn có tục ngủ trên cây. Mỗi khi vào rừng săn thú hoặc đào củ mài củ sắn muộn quá không về được thì họ leo lên cây lội lớn dùng những que củi lớn bắc kê thành lán rồi ngủ ngồi để đối phó với thú dữ. Nhưng độc đáo nhất vẫn là tục đẻ ngồi. Khi người phụ nữ mang thai gần đẻ mà không có ai ở nhà thì họ ngồi vào một góc nhà và đẻ rồi tự đỡ đẻ luôn. Sau khi đẻ xong thì họ cắt rốn rồi tắm cho đứa trẻ và ngày hôm sau họ lại lên nương rẫy. Cuộc sống cứ thế trôi cho đến hôm nay.
Ngày nay những người trẻ thì không ngủ ngồi nhưng những người già thì vẫn ngủ ngồi, còn đẻ ngồi thì vẫn thế, họ đẻ bất cứ nơi nào kể cả ngoài ruộng hay trên nương rẫy. Mà ở đây không phải họ đẻ ít mà nhà nhiều là 13 người con còn 7-9 con thì rất nhiều...

Hoàng Tùng
------------------------------------------------------

Chuyện hai cụ già ăn… đất(?)

Trong những ngày vất vả lang thang tìm người ăn đất ở thị trấn Lập Thạch (Vĩnh Phúc), tôi đã gặp một cặp vợ chồng, là hai cụ già gần 80 tuổi, sống trong ngôi nhà toàn bằng đất và món ăn hàng ngày của hai cụ là… đất. Hai cụ ăn đất nhiều đến nỗi, đã đục ruỗng cả bờ ao. Cả huyện Lập Thạch, đã nhiều năm nay, không còn ai ăn đất nữa, chỉ có hai cụ, vẫn nghiện đất như nghiện... ma túy



Cụ Loa nướng đất
Cụ Loa nướng đất
 
 

Mấy năm trước, truyền hình, báo chí đưa tin ầm ĩ về chuyện ăn đất ở thị trấn Lập Thạch, khiến cả thế giới ngạc nhiên. Tuy nhiên, lần này trở lại, tôi được ông Nguyễn Công Tuấn, Phó chủ tịch UBND thị trấn Lập Thạch cung cấp thông tin: “Ngày trước báo chí, truyền hình dựng cảnh một vài cụ già ăn đất rồi quay, rồi chụp, rồi gây dư luận ầm ĩ, chứ thực ra, các cụ đã ngừng ăn đất 20 đến 30 năm nay rồi. Chả còn ai ăn đất nữa đâu”. Mặc dù tin lời ông Tuấn, song tôi trộm nghĩ, 20 năm trước, nơi đây có rất nhiều bà, nhiều chị ăn đất, đất ăn được bày bán như mớ rau mớ cá ngoài chợ, thì dù tục ăn đất có mai một, cũng chưa thể hết ngay được. Do đó, tôi quyết định đi tìm cho bằng được một cụ già ăn đất ở xứ này.
Những người trẻ thì không biết gì về tục ăn đất, thậm chí, hỏi chuyện ăn đất, thanh niên còn tròn mắt ngạc nhiên, cứ như chuyện đó chỉ có ở thế giới khác, chứ không phải ở quanh họ. Chỉ có người lớn tuổi vẫn biết có tục ăn đất ở Lập Thạch. Tuy nhiên, hỏi còn ai ăn đất không, họ đều lắc đầu không biết. Các cụ già nghiện đất phần thì đã cai từ vài chục năm nay, phần thì đã… về với đất cả rồi. Cụ Nguyễn Thị Lạc, người được lên báo chí, truyền hình nhiều, cũng đã mất 3 năm trước, cụ Huệ nổi tiếng nghiện đất đã mất tròn 10 năm…
Người dân chỉ tôi 3 ngọn đồi mà các cụ già ở Lập Thạch đào đất ăn từ hàng trăm năm nay, gồm đồi Công An (sở dĩ có tên gọi như vậy vì nó nằm sau Công an huyện Lập Thạch), đồi Bò Vàng và đồi Vạng. Chỉ có 3 quả đồi này cho đất dày nhất, “ngon nhất”, “ngậy nhất”. Nơi khác cũng có đất ăn được, nhưng lẫn tạp chất, nhiều sạn, khó ăn. Tuy nhiên, đồi Công An đã bị san phẳng, nhà cửa mọc lên kín mít. Đồi Bò Vàng, nơi mà mấy chục năm trước, mỗi nhà trong xóm sở hữu một giếng đất sâu như hầm vàng, giờ cũng không còn cái giếng nào nữa. Người ta đã lấp lại kẻo trâu bò, thậm chí người qua lại sụt xuống hố chết bất đắc kỳ tử.
Vòng vèo mãi, rồi tôi cũng tìm thấy đồi Vạng, ở xóm Thống Nhất, trồi lên giữa cánh đồng. Mảnh đất đá sỏi gan trâu khô cằn đến nỗi bạch đàn còn xơ xác. Ông Đỗ Văn Bình, trưởng thôn Thống Nhất, nhà ở cánh đồi Vạng một đoạn bảo: “Ngày trước, cả thôn Thống Nhất đào hầm, đào giếng ở đồi Vạng lấy đất ăn, đem bán. Nhưng giờ không ai lấy nữa. Khu đồi giờ thuộc sở hữu của cụ Loa. Không biết hai cụ còn đào đất, còn ăn đất nữa không. Nhưng hôm trước nghe vợ tôi kể, gặp cụ Biện, vợ cụ Loa ở chợ, thấy mép dính đất. Chắc cụ này vẫn còn ăn”. Nói rồi, ông Bình dẫn tôi tìm đến nhà cụ Loa.
Ngôi nhà của hai cụ có tuổi độ vài chục năm, nhưng kiểu cách của nó thì chắc cỡ mấy ngàn năm rồi! Hai cụ vẫn sống trong ngôi nhà tường trình đất, loại nhà phổ biến từ thời… Đông Sơn. Ông Bình bảo, con cháu hai cụ đều khá giả, có điều kiện, nhưng hai cụ nhất định không ở cùng, cứ ở với nhau trong căn nhà đất xập xệ. Thậm chí, đã mấy lần lãnh đạo thị trấn động viên cụ phá nhà đất, rồi các cơ quan hỗ trợ xây cho cụ một ngôi nhà nhỏ, chắc chắn, song cụ cũng không đồng ý. Hai cụ bảo, hai cụ đã già, sắp chết rồi, xây nhà làm gì cho phí, tiền đó đem xây cho người khác.
Khi tôi vào nhà, cụ Khổng Thị Biện đang lọ mọ trong bếp, khói mù mịt, nóng hầm hập. Hỏi cụ đang làm gì, cụ Biện ngẩng lên, tay quệt mắt nhòe nhoẹt nước vì ám khói bảo: “Bà đang nướng ngói (các cụ gọi loại đất ăn được bằng cái tên lịch sự là ngói). Hôm qua ông bà ăn hết rồi, nay nướng thêm để ăn. Ông bà nghiện cái món này rồi, ai bỏ được chứ ông bà thì không bỏ được, chết mới hết ăn”. Tôi hỏi cụ Loa, cụ Biện ra sân chỉ tay về phía cái ao trước nhà. Tôi thấy một già, một trẻ đang lõm bõm dưới nước. Cái ao dưới chân đồi sâu hoắm, nhưng nước cạn sền sệt, chưa đến đầu gối. Đứa cháu dùng xà beng đâm bồm bộp vào bờ ao, nạy ra từng “tảng đá” trắng như vôi. Thằng cháu cứ nạy được “cục đá” nào, cụ Loa lại lòng khòng bê lên sân phơi, dưới cái nắng bỏng giãy. Tôi hỏi: “Cụ đào đá làm gì vậy?”. Cụ Loa bảo: “Đá là đá thế nào. Ông đào đất đấy. Đất này ăn được. Không tin hả? Ông bà ăn ruỗng cái bờ ao này rồi!”.
Cụ Khổng Văn Loa khệ nệ đặt cục đất lên sân phơi nắng rồi nói như súng liên thanh: “Ngày trước ông bà đào giếng ở đồi Vạng lấy đất chế biến, vừa ăn, vừa bán, nhưng giờ không ai ăn nữa, cũng chẳng ai mua, nên lấp hết giếng rồi. Con cái cấm ông bà ăn ngói, nhưng ông bà thèm lắm, cứ ăn giấu ăn giếm thôi. Hồi năm ngoái, mấy đứa con thuê máy xúc về khơi ao, ông thấy vỉa đất trắng lộ ra, nhìn thèm quá, không nhịn được, ông bà lại đào lên ăn. Mới hơn năm nay, ông bà đã xơi hết một góc bờ ao rồi”.


Vợ chồng cụ Loa đang xơi đất


Để chứng minh đất này ăn được, ngon là đằng khác, cụ Khổng Văn Loa lấy một cục đất to như cục gạch, đã phơi nắng từ hai hôm nay. Cụ dùng con dao rựa sắc, nhằm thớ đất nạy ra thành từng miếng nhỏ. Nạy không ra thì cụ chém, bổ theo thớ. Cả khối đất gồm những miếng nhỏ độ vài ngón tay, bằng bao thuốc lá dính chặt vào nhau. Nạy ra từng miếng rồi, cụ Loa kỳ công đẽo gọt hết phần sạn (đất đen, tạp chất bám dính), chỉ lấy phần lõi trắng xóa như cục phấn, như miếng ruột sắn, ruột khoai lang.
Theo cụ Loa, có hai cách chế biến đất khá đơn giản. Cách thứ nhất, cho đất vào rổ, đặt lên bếp kiềng rồi châm lửa vào rơm… ẩm. Sau khi rơm cháy một cách khó nhọc, thì lấy tro lấp lên lửa để tạo khói. Khói mù mịt bốc lên, quyện lấy những cục đất trong rổ độ 30 phút đến một tiếng đồng hồ, khi cục đất trắng xóa chuyển sang màu ám khói vàng nhạt, thì ăn được. Chỉ cần hun khói một lần, có thể gói đất vào giấy báo, túi nilon ăn quanh năm suốt tháng. Thứ đất kỳ lạ này có tác dụng giữ mùi ám khói rất tốt và đặc biệt chính cái mùi ám khói đó đã tạo nên sự quyến rũ của đất. Vợ chồng cụ Loa và cụ Biện thường chỉ chế biến đất ăn bằng cách đơn giản như vậy. Còn cách chế biến thứ 2, phức tạp hơn chút, nhưng đã thành nghệ thuật “ẩm thực đất” từ xưa ở vùng Lập Thạch. Sau khi tạo nguyên liệu đất, người ta đi bẻ cành tế và hái lá sim trên đồi, rồi vặt lá ổi trong vườn. Cành tế thì khô, nhưng lá sim và lá ổi đều phải tươi nguyên, còn rỏ nhựa. Lá ổi và lá sim được rải xuống đáy rổ hoặc rá, đất xếp lên, rồi lại phủ tiếp lớp lá ổi và lá sim. Củi tế đốt không bắt lửa, nhưng cho nhiều khói. Khói quẩn lên rổ, quyện vào lá sim, lá ổi, bốc ra thứ mùi đặc trưng, rồi bị đất hút vào. Hun khói như vậy chừng một giờ thì đất ngả màu vàng và thơm nức, nhìn chỉ muốn cắn.
Vợ chồng cụ Loa thi thoảng cũng làm món đất kiểu cầu kỳ như thế, nhưng chỉ làm cho người đặt mua. Nhưng người mua đất về ăn hầu như không còn nữa, người mua chủ yếu là người tò mò, mua về làm kỷ niệm, số ít nhà khoa học đặt cụ làm món đất để nghiên cứu. Hai cụ già đào bới xới tung cả bờ ao, rồi phơi đất kín sân, cạo đất cành cạnh, rồi đốt lửa lấy khói hun đất suốt mấy ngày trời mới làm được chừng một yến đất ăn, bán được một hai trăm ngàn. Nhưng theo hai cụ, càng ngày càng ít người mua đất. Cả năm may ra có vài người đến hỏi.
Cụ Khổng Văn Loa năm nay 78 tuổi, vợ là cụ Khổng Thị Biện, 79 tuổi. Hai cụ quê gốc ở Cao Phong, bên kia sông Lô, thuộc Phú Thọ. Hai cụ biết đến món đất này từ nhỏ, vì bố mẹ, ông bà thường đi bộ hơn 20 cây số sang mãi vùng Lập Thạch mua về ăn. Bố cụ đi cày, thường dắt lưng chiếc điếu cày, ấm trà xanh và gói đất. Cày cuốc mệt, nhấp chén trà, rít điếu thuốc lào, rồi nhai miếng đất là tỉnh cả người, làm việc không biết mệt. Theo cụ Loa, tục ăn đất có từ bao giờ, cha ông cụ cũng không rõ, nhưng từ năm 1945 thì ăn nhiều hơn, khắp nơi ăn. Có thể do trận đói, người dân ăn đất cho quên đói, rồi bị nghiện luôn. Còn cụ Biện thì bảo, khi người đàn bà có bầu, trong người nóng nực, khó chịu, ăn miếng đất, vừa bùi ngậy lại mát ruột, cơ thể sảng khoái hẳn ra. Đẻ xong rồi, vẫn nhớ mùi vị của đất, nên cứ ăn mãi, rồi nghiện đến già. Có lẽ, thứ đất chứa nhiều canxi này có tác dụng tốt với cơ thể bà chửa, nên chủ yếu đàn bà ăn đất, ít có đàn ông nghiện món này.
Cụ Loa bảo, không biết có phải duyên nợ với đất không, mà cách đây 50 năm, vợ chồng cụ đi khai hoang, lại định cư trên đúng kho đất ăn được, đó là đồi Vạng. Ngày đó, dân khắp Lập Thạch kéo về đồi Vạng, đòi Bò Vàng, đồi Công An để đào giếng khai thác đất ăn. Cụ Loa dẫn tôi lên đồi Vạng, cũng như những quả đồi khác, toàn đá sỏi gan trâu, chỉ có bạch đàn sống được. Trên khắp quả đồi rộng vài ha này, đâu đâu cũng thấy di tích của giếng đất. Mỗi miệng giếng có đường kính trên dưới một mét, sâu xuống lòng đất thì vô kể. Khi đào xuống đến độ sâu nhất định, hết vỉa đất, thiếu dưỡng khí, hoặc gặp nước, thì người ta lại đào các ngách theo đường ngang. Các ngách chạy lung tung trong lòng đồi, xuyên thủng nhau, tạo thành một hệ thống hang động chằng chịt dưới lòng đất. Ngày đó, dựng nhà trên đồi Vạng, đúng mỏ đất, nên hai cụ sống khá giả bằng nghề chế biến đất ăn. Hàng ngày, cụ Loa xuống lòng đất tìm đất trắng như công nhân ngành than khai mỏ, rồi hai vợ chồng xì xụp nướng đất cả đêm, để sớm mai cụ Biện có mẹt đất to tướng bày bán ở chợ. Cái mẹt đất ấy đã nuôi mấy người con trưởng thành. Tuy nhiên, giờ trên đồi Vạng không còn giếng đất nào nữa, chỉ còn lại di tích nông choèn. Con cháu hai cụ đã lấp hết giếng đất, vì sợ cụ trèo xuống, nhỡ sẩy chân ngã thì khổ, rồi trẻ con nghịch ngợm, trâu bò sa chân rơi xuống thì chỉ có chết.
Đang lang thang giữa trưa nắng trên đồi Vạng để nhớ lại những ngày nhà nhà đào đất, người người ăn đất, thì cụ Biện gọi lớn. Tôi và cụ Loa tìm về ngôi nhà trình đất ngay sườn đồi. Rổ đất trắng tinh sau khi hun khói đã chuyển sang màu hơi ngà. Hai cụ ngồi trên giường, cứ mỗi người một miếng, nhai sần sật, sồn sột. Bột từ miếng đất tan ra, dính trắng môi mép hai cụ. Vừa nhai, cụ Biện vừa bảo, bùi như hạt mít, béo ngậy như miếng gan lợn nướng, càng ăn càng ngon, càng ăn càng nghiện, nghiện đến rụng răng, đến khi về với đất mới thôi. Nhìn hai cụ già ngồi nhai đất, giữa ngôi nhà tường trình đất, tôi có cảm giác như tổ tiên, ông bà mình từ thuở hồng hoang hiện về từ mãi thời các vua Hùng dựng nước, khi mà đất được coi trọng lắm, đến đám cưới đám hỏi cũng phải “lấy gói đất làm đầu”. Một cảm xúc như ở đâu xa lắm tràn đến, và tôi đã nhặt một miếng đất, hồn nhiên sồn sột nhai cùng hai cụ.
Ở Việt Nam, đặc biệt là trên Tây Bắc cũng có nhiều vùng người dân lấy đất đem về nướng ăn và coi đó như là một thứ “lương thực”. Thậm chí họ còn ngâm nước cho nhão ra thành bùn, trộn thêm mì chính, muối, ớt… nướng vàng lên và ăn kèm… cơm. Năm 2006, trong chuyến đi lên xã Xìn Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Chúng tôi đã thấy một số “mỏ đất thực phẩm” ven đường mòn. Đó là loại đất trắng bạc như đất sét, nhưng có thớ nghiêng. Nhà báo Nguyễn Như Phong đã ăn thử và thấy… nhàn nhạt, có mùi ngai ngái và hơi tanh. Khi trợn mắt nuốt được một miếng to bằng ngón tay thì ông lắc đầu: “Khó sực quá”.

------------------------------------------------------------------

 

Đồn thổi kỳ bí về người giống… Bụt

Một hôm, đang chơi trong chùa, cậu bé Lai đã trèo lên xoa vào đầu bức tượng rồi nói: "Đẹp trai nhỉ, giá như sau này mình đẻ được người con thế này thì tốt”. Như có quả báo, câu nói đùa hồi trẻ con lại trở thành hiện thực vận vào hai đứa con của ông sau này?





Nguyễn Văn Vũ.
Nguyễn Văn Vũ
 
 
Ở thôn Văn Cao (xã Hữu Bằng, Kiến Thụy, Hải Phòng), hơn 30 năm nay người dân vẫn truyền tai nhau câu chuyện huyền bí mang màu sắc hoang đường về người đàn ông có đứa con “giống Bụt”.

Qua lời kể hùng hồn và thuyết phục của những người từng gặp mặt đứa bé, chúng tôi quyết định đi tìm sự thật về lời đồn kỳ bí này.

Xôn xao câu chuyện “Bụt phạt”

Ba chục năm nay, những tưởng, theo thời gian câu chuyện mang nhiều màu sắc hoang đường về người đàn ông có khuôn mặt Bụt đã rơi vào quên lãng. Tuy nhiên, điều bất ngờ, người dân Hữu Bằng vẫn không ngừng truyền tai nhau, kể vanh vách cho nhau nghe mỗi khi nhắc đến chuyện này.

Bà Nguyễn Thị Loan, người xã Thanh Sơn (cạnh xã Hữu Bằng), từng chứng kiến sự việc nhớ lại: "Chúng nó chỉ giống tượng phật bằng gỗ ngày xưa thôi. Da dẻ cũng như vậy, màu gỗ mốc, mắt một mí, sắc, tai sát vào không mở ra như bình thường. Một đứa mất hồi nhỏ, bây giờ nhà ông ấy vẫn còn một đứa đấy”.

Đồn thổi kỳ bí về người giống… Bụt
Vợ chồng ông Lai và cậu con trai.
Theo lời chỉ dẫn của bà Loan, chúng tôi tìm về xã Hữu Bằng để mục sở thị câu chuyện mang nhiều màu sắc huyền bí này.

Người dân nơi đây kể lại, vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, tại làng Văn Cao, xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng có một ngôi chùa bị bỏ hoang, đổ nát. Trong chùa chỉ còn mỗi bức tượng phật bằng gỗ là nguyên vẹn nhưng cũng đã tróc sơn vì mưa nắng. Đám trẻ chăn trâu trong làng thường ra đây chơi đùa.

Ông Nguyễn Văn Lai (SN 1954) khi đó chừng 13- 14 tuổi vốn nổi tiếng nghịch ngợm trong vùng. Một hôm, đang chơi trong chùa, cậu bé Lai đã trèo lên xoa vào đầu bức tượng rồi nói: "Đẹp trai nhỉ, giá như sau này mình đẻ được người con thế này thì tốt”.

Như có quả báo, chẳng ai ngờ câu nói đùa hồi trẻ con lại trở thành hiện thực vận vào hai đứa con của ông sau này?

Năm 1976, ông Lai kết hôn với bà Nguyễn Thị Bải. Đôi vợ chồng nghèo ở một ngôi nhà tranh cuối làng Văn Cao. Năm 1980, vợ chồng ông Lai sinh được người con trai đặt tên là Nguyễn Văn Vũ.

Khi mới sinh, người Vũ đỏ hỏn như quả mận chín, gia đình ông tưởng trẻ con mới đẻ ra người đỏ như vậy là bình thường. Nhưng được ba tuổi, người Vũ vẫn đỏ hỏn, không những vậy đầu còn không mọc tóc, da bị tróc vảy, không đi lại được, lúc nào cũng nằm với ngồi.

Chưa hết bàng hoàng, 6 năm sau, vợ chồng ông Lai lại sinh được người con gái đặt tên là Nguyễn Thị Lê.

Lạ kỳ, người con gái cũng có mặt mày và nước da đỏ hỏn bị tróc vẩy giống hệt như anh trai. Hai người con của ông Lai lớn lên chẳng nói chẳng rằng, mắt to, môi thâm, đầu trọc, da tróc vẩy trắng, suốt ngày ngồi như tượng.

Lúc này, người ta mới bàn tán câu chuyện xảy ra ở ngôi chùa hoang cuối làng năm xưa. Câu chuyện nghịch Bụt đã khiến gia đình ông hoang mang, lo lắng.

Nghe mọi người mách nước vợ chồng ông đã đi cầu cúng khắp nơi, cứ chỗ nào có thầy giỏi là vợ chồng ông Lai lại tìm đến. Có lẽ, vì lời khẩn cầu thành tâm của vợ chồng ông nên ba người con sau này sinh ra đều bình thường.

Hoàn cảnh thương tâm

Chúng tôi tìm vào nhà ông Nguyễn Văn Lai đúng dịp ngày mùa, con đường làng ngập tràn rơm rạ. Ở cái làng này ai cũng thương cho vợ chồng ông Lai.

“Nhà ông Lai nghèo lắm. Trước kia ở nhà đất, có năm đứa con thì hai đứa bị bệnh tật, đốt không biết bao nhiêu tiền của chạy chữa mà chẳng khỏi. May mắn là có dự án đường cao tốc chạy qua, được đền bù ít tiền nên gia đình ông xây được cái nhà tử tế chứ không thì chẳng biết bao giờ mới ngóc đầu lên được”, một người dân trong làng cho biết.

Thoạt nhìn, ông Lai có thân hình chắc khỏe, nước da ngăm đen. Nhìn kỹ trên mặt ông người ta có thể nhận thấy nỗi khắc khổ còn đọng lại ở những nếp nhăn kéo đôi mắt buồn u tịch.

Đi bộ đội từ tháng 3 năm 1975, năm 1976 về nhà cưới vợ sau đó ông tiếp tục đi làm nghĩa vụ quân sự đến năm 1979 thì xuất ngũ.

Năm 1980, hai vợ chồng vui mừng khi đứa con đầu tiên chào đời. Gia đình đặt tên con là Nguyễn Văn Vũ.

Hồi mới sinh, da Vũ đỏ như da quả mận, người nhà cứ nghĩ là bị tràm sau đó đưa đến bệnh viện Nhi Đức để chăm sóc trong lồng ấp.

Tại đây, các bác sĩ đã chẩn đoán Vũ bị tắc tuyến mồ hôi bẩm sinh. Hai năm sau, vợ chồng ông tiếp tục sinh thêm người con thứ hai đặt tên là Nguyễn Thị Lê.

Điều lạ kỳ, Lê cũng bị những triệu trứng như của Vũ. Gia đình ông vô cùng buồn bã, lại nghe lời đồn đoán của người dân nên rất hoang mang.

Bà Bải nhiều đêm chỉ biết ôm gối khóc ròng. “Hồi ấy, vừa chạy chữa cho các cháu, chúng tôi nghe người ta mách nên cũng đi cầu cúng các nơi. Bà nội, bà ngoại còn đưa các cháu lên chùa bán. Nhưng đấy chỉ là những biện pháp để giải tỏa tâm lý”, bà Bải kể lại.

Năm 1986, ông Lai đưa Vũ và Lê lên bệnh viện Việt - Tiệp, khoa Da liễu ở TP Hải Phòng để xét nghiệm. Kết quả lần này cũng khẳng định, hai đứa trẻ bị tắc tuyến mồ hôi bẩm sinh.

Bác sĩ ghi trong bệnh án là do nhiễm xạ. Lúc này ông Lai mới nhớ lại: "Hồi làm bộ đội tên lửa, sau những lần bắn tập thường phải vệ sinh bệ phóng. Có đôi ba lần trong lúc làm việc tôi đã hít phải thứ khí ô khí Gơ gì đó mà người ta hay gọi, sau đó về thì thấy người mệt mỏi. Nhưng chỉ thời gian ấy thôi, sau này thì người bình thường”.

May mắn, qua thời gian điều trị, những năm sau đó ông Lai sinh được ba người con nữa và cả ba đều khỏe mạnh, bình thường.

Ông Lai bộc bạch: "Trước đây gia đình khó khăn lắm, gần đây được đền bù mảnh đất vài trăm triệu cũng cố gắng xây cái nhà cho các cháu nó ở đàng hoàng. Vũ trước đây còn đi lại, tự sinh hoạt được nhưng sáu, bảy năm trở lại đây mắt cháu mờ đi, tay không còn linh hoạt, gia đình phải đút cho ăn. Hiện ba đứa con sau của tôi thì hai đứa đang học đại học. Gia đình vẫn phải vay mượn để nuôi các cháu ăn học”.

Gặp Vũ, ban đầu chúng tôi cũng không khỏi giật mình bởi ngoại hình của anh có nét giống pho tượng. Chúng tôi hiểu vì sao người ta lắp ghép thành câu chuyện ly kỳ như vậy.

Trái với vẻ bề ngoài dữ dằn, Vũ rất thật thà và thân thiện, đặc biệt giọng nói của anh rất khoẻ khoắn, sang sảng.

Từ khi sinh ra cho đến bây giờ Vũ sinh hoạt rất khó khăn, da lúc nào cũng khô, bong, nứt nẻ. Mỗi sáng thức dậy mất khoảng 15 phút cho da co dãn rồi mới hoạt động được. Mỗi ngày Vũ đều phải dùng thuốc mỡ bôi da và thuốc nhỏ mắt, trung bình một tuần hết hai lọ.

Ngồi được một lúc, đứng dậy lớp da lại bong ra và rơi xuống đất. Ông Lai lại cầm chổi khua khua và hót cẩn thận lớp da bong tróc.

Hiện tại, Vũ được chế độ 202 dành cho người tàn tật, mỗi tháng anh được trợ cấp 360 nghìn đồng. Những giấy tờ xét nghiệm khi xưa đã bị thất lạc nên không đủ hồ sơ để làm chế độ cao hơn cho Vũ.

Mùa đông sắp tới, Vũ lại sắp phải đối mặt với nỗi đau đớn thể xác lớn nhất trong năm. Vì lúc thời tiết hanh khô, lớp da của Vũ sẽ nứt nẻ nhiều hơn và bong ra từng mảng lớn khiến chảy máu.

Nỗi đau này đã kéo dài 31 năm và Vũ vẫn còn phải tiếp tục đối mặt cho đến hết cuộc đời...

Ông Nguyễn Trường Sơn, trưởng thôn Văn Cao cho biết: "Ngày trước, đình, chùa bị tàn phá, trẻ con vào chơi là chuyện bình thường. Ông Lai hồi đó nghịch thật nhưng cũng chẳng đến nỗi nói như những lời đồn thổi. Tượng ở chùa hồi đó, trẻ con đứa nào chả sờ, chả nghịch, chưa kể những người phá chùa sao họ lại chẳng bị gì? Hơn nữa, năm 2010 và trước đấy ông ấy cũng đi xét nghiệm là bị nhiễm xạ, hai đứa con chẳng qua bị bệnh hiếm gặp nên mọi người thêu dệt cho ly kỳ chứ thật sự không có câu chuyện như lời đồn người ta vẫn kể”




 -------------------------------------------------------------------

.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”

Tình trạng của Tâm cứ như quỷ ám, ma hành. Anh Quan bảo, mỗi khi lên cơn ngứa ngáy, không chịu nổi, Tâm lại trèo tít lên ngọn cây và đu lủng lẳng trên đó khiến vợ chồng anh sợ hết hồn vía.





Vết loét kinh hoàng trên vai bé Tâm.
Vết loét kinh hoàng trên vai bé Tâm.
Có một vùng đất của người Mường đẹp nao lòng như cái tên của nó: Mường Chiềng. Nhưng vùng đất đẹp đẽ như nàng tiên ngủ quên giữa núi rừng, bỗng một ngày, cách đây 30 năm, bị… “quỷ ám”. Người Mường đồn vậy. Họ sợ mảnh đất ấy lắm. 30 năm trước, một “con quỷ” đã đội lốt một đứa trẻ. Giờ đây, những “con quỷ” hiện về càng nhiều. Tổng cộng đã có 10 “con quỷ” ẩn trong những sinh linh bé bỏng, vô tội, thương tâm ở Mường Chiềng. Những đứa trẻ không làm gì nên tội, nhưng lại phải chịu một thứ cực hình, mà có lẽ, đồ tể, cai ngục tàn bạo nhất cũng không nghĩ ra được, âm tào địa phủ cũng không có.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”
Thung lũng Mường Chiềng.
4 năm trước, tôi đã có mặt ở Mường Chiềng (Đà Bắc, Hòa Bình). Tôi đã thực sự sợ hãi, lạnh người và rời Mường Chiềng với những giọt nước mắt lạc vào đá núi. Tôi biết rằng, vài câu chữ, chẳng làm được gì to tát để giúp những thân phận bị “quỷ ám” kia. Các giáo sư, tiến sĩ y khoa đầu ngành, đã phải bó tay. Căn bệnh “quỷ ám” kia đến ngành y thế giới cũng chịu. Vậy tôi làm được gì chứ? Tôi bị ám ảnh với ánh mắt không thôi hy vọng của họ khi cất bước rời Mường Chiềng. Mường Chiềng ám ảnh tôi từ bấy đến giờ.

Mường Chiềng vẫn vậy. Đèo dốc quanh co, khiến con đường mấy chục cây số mà xa xôi diệu vợi. Cái tên Mường Chiềng đã nổi tiếng lắm, nhưng buồn thay, Mường Chiềng nổi tiếng không phải vì có thung lũng hoa mận, hoa mơ, không phải vì có suối nguồn róc rách, cảnh vật trữ tình, mà Mường Chiềng nổi đình nổi đám vì căn bệnh quái gở bỗng phát tác ghê gớm, làm chấn động xã hội, làm đau xót bao con tim.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”
Bé Xa Văn Tâm.
4 năm trước, thằng bé Xa Văn Tâm còn nhỏ, nó ngồi nem nép bên bậu nhà sàn khi có người lạ ghé thăm. Nhà Tâm ở xóm Chiềng Cang, cách trung tâm xã chừng 20 phút cuốc bộ. Cha Tâm, anh Xa Văn Quan buồn lắm. Kể về con, tý anh lại khóc. Nước mắt cứ nhạt nhòa, chan đầy câu chuyện.

Năm 1997, vợ anh Quan sinh hạ thằng bé bụ bẫm. Được thằng con đẹp đẽ, nên vui lắm, mổ lợn ăn mừng, mấy ngày rượu tràn quanh bếp lửa. Lên nương thì thôi, chứ về nhà anh lại quẳng cày hôn hít con. Anh hứa với vợ, sẽ lao động chăm chỉ, trồng ngô trồng sắn, dành dụm tiền bạc nuôi con ăn học thành người, không để nó phải cực nhọc nương rẫy như cha mẹ nữa.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”
Anh Xa Văn Quan và cậu con tội nghiệp của mình.
Nhưng, niềm vui kéo dài chẳng được bao lâu. Chỉ 5 tháng sau, trên cơ thể bé Tâm có những biểu hiện lạ thường. Những nốt đỏ thư thủy đậu mọc lên, bọng nước, đỏ ối, rồi vỡ ra lở loét. Nếu ở nơi khác, thì bệnh này không đáng lo, nhưng ở mảnh đất mà người ta độc mồm gọi là “quỷ ám” này, thì ôi thôi, quỷ đã mò đến hại gia đình anh rồi.

Biểu hiện bệnh “quỷ ám” trên thân thể bé Tâm cũng giống hệt những trường hợp trước đó. Nốt mẩn đỏ mọc trên trán, lan dần xuống ngực, cổ và tràn ngập 2 vai, lưng. Vợ chồng anh Quan nhìn con mình, ngày qua ngày, cứ như thể có dòi bọ lúc nhúc dưới lớp da, ăn thịt con mình, mà lòng đau như dao cắt. Khổ thân bé Tâm, chưa biết đi, đã phải biết gãi. Bé cứ khua khoắng loạn xạ, khóc lóc suốt ngày. Cái bệnh này ngứa lắm, ngứa như có dòi bọ trong da, không gãi không chịu nổi.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”
Mặc dù biết con mình bị “quỷ ám”, vô phương cứu chữa rồi, nhưng anh Quan vẫn làm một việc vô nghĩa, là đem con đi kêu khóc. Anh đưa con lên bệnh viện huyện, huyện bảo lên tỉnh, tỉnh lắc đầu bảo về trung ương. Các bác sĩ từ địa phương đến chuyên gia đầu ngành da liễu, cũng lắc đầu không biết là bệnh gì. Họ đành cấp đơn thuốc bôi ngoài da. Nhưng những thứ thuốc thông thường ấy chẳng có tác dụng gì, càng bôi, vết loét càng lan rộng hơn, sâu hơn. Con đường đến bệnh viện là con đường cụt mất rồi.

Xứ Mường Hòa Bình nổi tiếng vì có nhiều bài thuốc dân gian độc đáo, bí truyền. Nghe lời mách bảo, vợ chồng anh Quan đã đưa con đi đủ các xứ “nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” để nhờ các thầy lang điều trị. Các thầy lang đều xót thương cho thân phận “quỷ ám” của bé Tâm, mà ra sức cứu chữa. Họ dùng đủ các bài thuốc uống trong, bôi ngoài, đắp lá, ngâm chậu, xông hơi. Thế nhưng, những bài thuốc được dân gian đúc kết cả ngàn năm kinh nghiệm cũng chẳng ăn thua gì. Những vết loét cứ mỗi ngày một lan rộng, ăn sâu vào cơ thể bé nhỏ của Tâm.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”
Mỗi khi đau đớn, ngứa ngáy quá, bé Tâm lại bỏ nhà đi lang thang.
Đông y, Tây y đều bó tay, không còn cách nào khác, đường cùng, anh Quan đành phải nghe lời dân bản, mời thầy mo đến cúng đuổi “con quỷ” đang trú ngụ trong thân thể con mình.

Tất thảy những thầy mo nổi tiếng nhất ở vùng Đà Bắc đều đã bó tay trước “con quỷ” tàn độc này. Gia đình những nạn nhân của căn bệnh quái gở ở Mường Chiềng cũng đã lần lượt mời các thầy mo trong vùng đến cúng, song bệnh tình chỉ nặng thêm. Bụt chùa nhà không thiêng, anh Quan phải sang tận Tân Lạc rước thầy mo cao tay nhất vùng về.

Đêm bắt “quỷ” hôm đó có mặt đông đủ họ hàng, làng bản. Hương khói, cờ phướn, lá bùa dán khắp ngôi nhà sàn. Tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng chú của thầy mo rền rĩ, âm âm trong cảnh núi rừng tịch mịch. Cậu bé Xa Văn Tâm với mình trần lở loét khóc thét vì sợ.

Sau mấy tiếng đồng hồ cúng bái, thầy mo thông báo đã đuổi được con quỷ ra khỏi cơ thể Tâm. Mọi người vui vẻ uống rượu, chúc mừng. Anh Quan tràn ngập hy vọng.

Nỗi đau của những con người bị “quỷ ám”
Từ ngày bé Tâm bị căn bệnh "quỷ ám", rất ít người đủ can đảm bước chân vào nhà anh Quan.
Thế nhưng, nhiều ngày trôi qua, vợ chồng anh không nhận thấy sự đổi khác gì ở Tâm cả. Không những thế, Tâm còn có biểu hiện tâm thần, hoang tưởng. Tâm trở nên lầm lỳ, ít nói, cứ sểnh ra là trốn nhà bỏ đi lang thang. Đã có thời gian, không trông được con, vợ chồng anh Quan đóng một chiếc cũi và mỗi khi đi nương thì nhốt em lại. Nhưng nằm trong cũi thì kiến bò ăn thịt, ruồi bâu hút máu vết thương, càng làm Tâm phát điên. Em gào khóc, la hét, đập phá. Nhìn cảnh đó, xót xa quá, anh Quan đem cũi đi đốt. Đành phải chấp nhận cảnh thi thoảng Tâm lại bỏ nhà đi lang thang. Lâu quá không thấy con về, thì anh lại đi tìm. Cái hình dạng khủng khiếp của em ai gặp một lần là nhớ, nên anh đi tìm con cũng dễ. Nơi Tâm hay lê la là chợ búa, trường học ở các xã lân cận.

Hôm tôi lên Mường Chiềng, thì Tâm vừa về sau mấy ngày bỏ nhà đi lang thang. Anh Quan cởi áo con mình ra, tôi thực sự sốc. Tôi đã chứng kiến rất nhiều thứ bệnh tật quái gở, nhưng không cầm nổi lòng mình khi thấy mặt, cổ, vai, gáy và đặc biệt là phần lưng bong tróc với lớp thịt đỏ au nhầy nhụa. Bệnh của em đã khủng khiếp hơn 4 năm trước rất nhiều.

Tình trạng của Tâm cứ như quỷ ám, ma hành. Anh Quan bảo, mỗi khi lên cơn ngứa ngáy, không chịu nổi, Tâm lại trèo tít lên ngọn cây và đu lủng lẳng trên đó khiến vợ chồng anh sợ hết hồn vía. Khốn khổ nhất là những ngày hè nắng nóng. Mồ hôi hòa lẫn vào vết thương khiến em bỏng rát, ngứa ngáy tột cùng. Gãi vào vết thương thì thịt da bong tróc, máu chảy tung tóe.
-----------------------------------------------------------------

“Rắn thần“ báo thù, hàng chục người theo nhau chết?

Theo quan niệm dân gian, khi cải táng mộ, nếu gặp rắn nằm trong mộ thì tối kỵ việc bắt, giết. Thế nhưng, những người trong một dòng họ ở Thị xã Chí Linh (Hải Dương) khi cải táng ngôi mộ tổ, gặp sự việc bất thường này lại có hành động “bất thường”: Bắt hai con rắn nặng cả ký lô lên làm… mồi


Những chuyện lạ chưa thể giải thích từ đó cứ liên tiếp diễn ra trong dòng họ này. Chỉ trong một thời gian ngắn mà lần lượt những người trẻ chết tức tưởi, chết tai nạn vì những lý do cực kỳ lãng xẹt...

Đã phạm điều tối kỵ lại còn “trùng tang”?

Đầu những năm 2000, do mộ cụ tổ của cụ ông và cụ bà dòng họ nằm cách xa nhau, mộ của cụ bà lại bị người dân làm ruộng cuốc làm mất hết cả chân mộ dẫn đến nước ngập vào trong nên cả họ tiến hành họp những người cao tuổi trong dòng họ, bàn chuyện chuyển mộ cụ bà về gần cụ ông.

Người ta kể lại, khi thợ xây tiến hành đào đất để di dời mộ của cụ bà thì phát hiện trong ngôi mộ có một con rắn lạ, nặng khoảng nửa ký nằm ở độ sâu khoảng 1,5 mét, lạ lùng là mình rắn có màu đỏ như lửa. Tiếp tục đào mộ cụ ông, người ta lại tiếp tục phát hiện một con rắn hổ mang nặng đến một ký nằm ở trên đầu ngôi mộ. Theo lời kể lại, sợ nhất là cả hai con rắn trên đầu đều có mào hình chữ thập, nhìn kỹ thì thấy một con trên đầu có hình chữ “Thọ”, một con trên đầu có hình chữ “Phúc”.




Ảnh minh họa

Có lẽ người ta nghĩ ở khu vực cánh đồng ngập nước này, chuyện gặp rắn thì “thường như cơm bữa” nên không ai lấy làm lạ. Cánh thợ xây liền mang con rắn hổ mang đi bán lấy tiền uống rượu. Con rắn có màu đỏ rực còn lại thì ông Điền là người trong họ mang về nhà để ngâm rượu, nhưng sau đó vợ ông không cho ngâm nên ông mang ra ruộng thả đi.

Sau khi dòng họ di dời mộ cụ ông, cụ bà về với nhau, thời gian đầu mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường, không có biến cố nào xảy ra. Bẵng đi một thời gian, vào khoảng năm 2007 vợ của ông trưởng họ bỗng nhiên bị bệnh đột ngột qua đời. Dân làng bỗng trở nên hoang mang hoảng sợ, kể từ đó câu chuyện về dòng họ bị “ma ám” bỗng trở nên xôn xao, náo động cả một vùng quê.

Người trong họ cho biết, sau khi vợ ông trưởng họ bỗng nhiên bị bệnh đột ngột qua đời, con dâu trưởng của người chết liền đi xem bói thì được cho rằng: Khi làm mộ, nếu phát hiện có rắn ở trong thì đó là điều thịnh vượng và không nên đào lên nhưng mọi người vẫn cố làm dẫn đến bị động mả, do đó các cụ “về bắt” dần con cháu trong họ và người đầu tiên “bị bắt” chính là vợ trưởng họ. Bên cạnh đó, thầy bói còn “phán” thêm: Do bà vợ trưởng họ bị “bắt” đúng vào giờ “trùng tang” nên cứ thỉnh thoảng các vị “thần trùng” lại về lấy con cháu trong họ xuống để làm phục vụ cho các “thần”.

Cả nhà theo nhau chết

Chẳng biết cái chết của bà vợ ông trưởng họ có liên quan gì tới việc “động mồ mả tổ tiên” hay “trùng tang” hay không, nhưng kể từ khi cô con dâu cả đi xem bói về thì hàng loạt người trong dòng họ không kể già trẻ, gái trai cứ thế chết dần chết mòn. Hơn một tháng sau, cả họ suốt ngày “bận bịu” vì tiễn đưa bốn người gồm: Cô, dì, chú, bác, cháu trong dòng họ về nơi an nghỉ cuối cùng. Một điều trùng lặp khác khiến mọi người vô cùng lo sợ: Chỉ trong vòng có hơn nửa năm trời, ba vợ con của một gia đình trong dòng họ đang mạnh khỏe bỗng nhiên đổ bệnh rồi từ biệt mọi người về thế giới bên kia.

Trong vòng hơn một năm trời kể từ cái chết đầu tiên, tổng cộng gần chục người khác trong dòng họ cứ thế theo nhau chết, trong đó có những cái chết thuộc dạng lý do “cực dị”.

Cái chết của anh L.V. Ngãi (SN 1972) là một trong số đó, lạ đến mức khi nhắc lại cả người trong và ngoài cuộc vẫn ngơ ngác không biết giải thích như thế nào cho hợp lý. Đó là một buổi chiều giữa tháng 9/2009 vào giữa mùa rươi nổi, anh Ngãi cùng vợ chở nhau bằng xe đạp ra sông Bích Thủy bắt rươi.

Chị vợ kể lại: “Hôm đó, khi tới bờ đê sông anh Ngãi đưa điện thoại cho tôi, dặn đứng chờ rồi anh ấy bơi thuyền ra nơi bẫy rươi giữa sông”. Bóng anh Ngãi dần khuất trong bóng đêm giữa mênh mông sóng nước chỉ còn thấy leo lét ánh đèn pin. Đứng chờ trên bờ một hồi lâu, bỗng chị nhận được điện báo của anh chồng cũng đánh rươi cách đó vài trăm mét thông báo việc thấy đèn pin và chậu đựng rươi của anh Ngãi trôi lập lờ theo nước dòng mà không thấy người đâu.

Có chút sững sờ nhưng chị vợ cố trấn an suy nghĩ vì biết chồng lớn lên trên sông nước, bơi lội nhất nhì làng không thể có chuyện chết đuối. Nhưng đợi mãi, gọi mãi không thấy, chị mới tá hỏa hô hoán mọi người đi tìm giúp. Vạch từng bụi cỏ quanh sông, theo dòng vài km cũng không thấy động tĩnh gì. Lúc bấy giờ, không hiểu linh tính thế nào người anh trai nạn nhân mới giật mình nói rằng: “Nó vẫn ngồi đâu đây thôi”.

Quả thực, tất cả những người hôm đó sững sờ nhìn thấy thi thể anh Ngãi chợt bật lên khỏi mặt nước, xếp chân trong tư thế ngồi ngay cạnh mạn thuyền, không hề trôi đi dưới dòng nước đang cuồn cuộn chảy, trong khi không hề vướng mắc vào bất cứ vật cản nào. Nén lại đau thương và không thể giải thích được cái chết kỳ cục của nạn nhân, mọi người chỉ đoán già đoán non anh đã bị cảm đột ngột nên ngã đuối nước mà thiệt mạng.

Đúng ngày giỗ 100 ngày anh Ngãi, người anh trai cũng đột ngột qua đời ngay trong buổi sáng giỗ em.

Sáng hôm ấy, chị vợ anh dậy từ tinh mơ chuẩn bị gánh hàng cá đi chợ nhưng thấy chồng nằm im thin thít thì nhẩm nghĩ: “Chắc hôm qua đi làm nên mệt nhọc say giấc” và đã không đánh thức chồng. Sau khi chuẩn bị cơm sáng, đưa con đi học rồi đến khi tan chợ về nhà, chị vợ lấy làm lạ vì thấy chồng không đi dự giỗ trăm ngày em trai mà nằm bất động trên giường.

Nấu cơm xong, gọi dậy ăn nhưng anh chồng chỉ lắc đầu. Ngỡ chồng giận mình vì lý do nào đấy nên chị không nói gì. Đến tận chiều, cả nhà mới hốt hoảng về tình trạng của anh. Gia đình vội vàng đưa đi cấp cứu, nhưng những dấu hiệu không lành về sức khỏe hiện tại của bệnh nhân đã báo trước cho dòng họ thêm một lần tang tóc. Anh trai anh Ngãi đã qua đời ít ngày sau đó tại bệnh viện Hải Dương sau cơn đột quỵ ấy.

Nỗi đau trong họ mạc, gia đình còn chưa chấm dứt khi hai anh em ruột lần lượt qua đời cách nhau 100 ngày mà không có lý do thì một sự lạ khác lại tiếp diễn. Đúng 100 ngày sau cái chết của người con thứ 2, mẹ đẻ của hai anh cũng đột ngột qua đời. Khăn tang trắng lại chồng lên khăn tang, chỉ hơn 9 tháng trời mà gia đình chịu cảnh chia ly người thân 3 lần.

Người trong họ kinh hãi, người trong thôn xôn xao. Thực hư không rõ như thế nào nhưng những sự lạ này cứ được đồn đại lên. Có người cho rằng “khi thấy người anh không dậy được thì mời thầy về cúng bái, cúng xong hôm sau nạn nhân bỗng tỉnh lại, nhưng kì quái là khi tỉnh dậy người này cứ đuổi bà vợ để cắn, rồi ngày hôm sau nữa thì chết”. Rồi chuyện lúc gia đình làm lễ gọi hồn người đó về hỏi thì người đó nhập hồn vào một người khác và cứ cười khanh khách: “Có phải một mình tao bắt đâu, thằng đấy nó khỏe lắm, tao phải gọi mấy người lừa lúc nó say rượu nên mới bắt được”.

Trước hàng loạt cái chết của mọi người, dòng họ liền tìm xuống một ông thầy ở Quảng Ninh để “cầu cứu” thì được người này phán rằng: “Dòng họ bị trùng tang nên cứ khoảng 100 ngày là lại có một người ra đi, nếu muốn thoát được thì phải nhờ thầy cao tay lập đàn giải hạn”.

(Còn nữa)


------------------------------------------------------------------

----------------------------------------------



Bón cơm cho người… chết!

Ông Sồng A Nhìa, con trai cả của bà Mỵ kiên nhẫn bón từng thìa cơm vào vòm miệng mà đôi môi đã phân hủy gần hết của mẹ.










Trong lễ cúng, người con cả sẽ bón cơm vào miệng người chết.
Trong lễ cúng, người con cả sẽ bón cơm vào miệng người chết.
Xưa kia, người Mông ở vùng rừng núi Tà Xùa (vùng giáp ranh giữa Phù Yên và Bắc Yên, Sơn La) thường đặt xác người chết trên giàn, treo lơ lửng vách nhà cả nửa tháng để làm ma. Sau từng ấy ngày làm ma, không hề có phương pháp bảo quản, ướp lạnh nên xác phân hủy nặng.

Theo lời cụ Sồng A Khư, vào mùa hè, khi người chết được làm ma đến ngày thứ 10 thì tai, mũi, má, ngón tay, ngón chân đều thối rữa, chảy ra, thậm chí rụng hết. Nhiều xác chết có lưỡi thè lè hẳn ra ngoài, có tử thi còn bị ruồi bọ ăn mất thịt, khuôn mặt lòi xương, thậm chí những con bọ to bằng đầu đũa từ tử thi bò xuống ngo ngoe khắp nhà. Con cháu phải đặt mấy cái chậu đóng bằng gỗ đựng tro dùng để hứng nước từ tử thi đang phân hủy chảy xuống.

Tuy nhiên, đó là chuyện của chục năm về trước, khi người Mông vẫn sống mông muội giữa đại ngàn Tà Xùa Phù Bắc Yên. Giờ đây, người Mông không cúng lâu thế nữa, họ chỉ làm ma tươi trong vòng 4 ngày là đem đi chôn.

Tôi đã đi đến nhiều vùng heo hút có đồng bào Mông sinh sống, từ Thanh Hóa, Nghệ An cho đến Hà Giang, Lai Châu, và thấy rằng ở đâu đồng bào Mông cũng có nghi lễ làm ma tươi cho người chết. Tuy nhiên, lễ cúng thường chỉ diễn ra trong vòng 1-2 ngày, còn ở đây, dù đã rút ngắn so với ngày xưa rất nhiều, song lễ cúng ma vẫn diễn ra ít nhất là 4 ngày.

Trong suốt những ngày làm ma cho người chết, dân bản kéo đến ăn uống linh đình. Người Mông ở đây quan niệm, khi linh hồn về được với tổ tiên là một niềm vui nên những bữa ăn tiễn đưa linh hồn phải thật linh đình, vui vẻ, mọi người phải cười nói thoải mái.

Bón cơm cho người… chết!
Để 4 ngày như thế này, xác chết bà Mỵ đã bốc mùi khủng khiếp.
Việc khóc lóc trong lễ làm ma thường chỉ mang tính hình thức (đối với người chết già) chứ không phải đau khổ. Khóc lóc trong lễ làm ma cũng là một nghệ thuật. Khi thầy cúng vừa cúng xong, mấy người con trai khóc rống lên một hồi, nhưng không có giọt nước mắt nào. Họ chỉ khóc một lúc, rồi im bặt, dành cho tiếng khèn ù ù vang lên.

Có một nghi lễ khiến chúng tôi phải lạnh gáy, đó là việc mỗi ngày, người con cả phải bón cơm ba lần cho người chết trước bữa ăn. Người con cả cứ xúc từng thìa cơm và thịt bón vào miệng người chết.

Bón cơm cho người… chết!
Múa khèn cúng ma.
Tất nhiên, người đã chết thì không thể ăn cơm được, nên cứ bón vào miệng, cơm lại vãi ra. Bón xong cơm, người con cả xúc cơm vãi đổ vào quả bầu khô đặt cạnh đầu người chết. Hành động này diễn ra trong suốt quá trình cúng bái, làm ma. Trong lúc người con cả bón cơm, đám con cháu tụ tập quanh xác chết khóc lóc và ai cũng cố khóc thật to để tỏ lòng hiếu thảo.

Ngày làm ma thứ 4 của bà Mỵ, chúng tôi lại tìm đến. Vừa bước vào trong nhà, một thứ mùi ngai ngái, rờn rợn của xác chết đang phân hủy xộc vào mũi, đồng nghiệp đi cùng tôi chạy luôn ra bìa rừng nôn thốc, nôn tháo.

Bón cơm cho người… chết!
Thầy cúng là những người nắm rất rõ tục cúng ma.
Ông thầy cúng vẫn ngồi dưới nền nhà bền bỉ đọc bài khúa khê (chỉ đường) bằng ngôn ngữ Mông. Nín thở tiến lại gần xác chết, tôi suýt ói mửa khi thấy khuôn mặt của bà Mỵ đã bẹt ra vì đang phân hủy.

Tôi không đủ can đảm để hít thở cái không khí ngột ngạt và kinh hoàng ấy. Tôi chụp nhanh lại cảnh tượng làm ma rồi chạy mau ra ngoài.

Ấy vậy mà, trong ngôi nhà nhỏ ấy, người ngồi quây quần đông như nêm và cứ vô tư ăn uống, đánh chén. Ông Sồng A Nhìa, con trai cả của bà Mỵ vẫn kiên nhẫn bón từng thìa cơm vào vòm miệng mà đôi môi đã phân hủy gần hết của mẹ.

Bón cơm cho người… chết!
Trồng ngô trên núi ở Suối Tọ.
Theo già Sồng A Khư, người Mông ở đây không bao giờ chôn người chết vào những ngày Tý, Dậu, Mão, Tỵ. Họ kiêng chôn người chết vào những ngày là con vật bé, chỉ chôn vào những ngày là con vật to như Mùi, Sửu, Ngọ, Thìn, Dần. Lý do vì sao thì cụ Khư cũng chẳng biết. Tổ tiên xưa làm ma thế nào, thì con cháu cứ theo nghi lễ mà làm.

Điều khá lạ, trong lễ cúng ma, ngoài những bài cúng còn có những lần hát đối đáp với những lời lẽ vui tươi để tiễn đưa người chết về trời. Người Mông quan niệm chết là được lên thiên đường, nên cúng càng nhiều, càng tốn kém thì người chết về thế giới bên kia càng được sung sướng và càng thể hiện được chữ hiếu của người sống với người quá cố.

Với những nghi lễ phức tạp như thế, nên vào mùa hè, khi người chết được làm ma đến ngày thứ 4 thì xác đã phân hủy và bốc mùi kinh khủng. Mùi ngai ngái của xác chết lan ra khắp thung lũng.

Bón cơm cho người… chết!
Trẻ em Mông ở Suối Tọ.
Trong tang ma cổ truyền của người Mông, đến ngày làm ma cuối cùng, từ sáng sớm con cháu và hàng xóm đã nhảy múa, hát hò, thổi khèn quanh xác chết rồi ăn uống no say, sau đó mới khiêng xác ra chỗ trống. Xác chết được để trên một cái sàn. Xung quanh sàn được cắm lá xanh. Thầy cúng làm lễ dâng hiến từng con vật. Ông ta buộc một sợt dây từ tay người chết nối với con vật được dâng tế.

Khi đọc xong bài tế thì tất cả các con vật bị giết. Lúc đó con cháu mới khóc và đội khèn trống thì nhảy múa vòng quanh xác chết liên tục trong 4 tiếng. Sau bữa trưa linh đình tại bãi đất trống, tử thi được mấy thanh niên khỏe mạnh vác trên vai chạy thật nhanh đến nơi chôn rồi thả xuống cái hố đã đặt sẵn mấy tấm gỗ pơ-mu.

Huyệt được đào ở một nơi hẻo lánh, ít người qua lại. Mộ được đắp rất đơn giản. Con cháu bê đá xếp theo từng bậc, đàn ông xếp 7 bậc, đàn bà xếp 9 bậc. Chôn xong, mọi người chia nhau luồn rừng đi quanh co một lúc rồi mới chạy về nhà. Họ làm như thế với suy nghĩ để con ma không biết đường theo về.

Bón cơm cho người… chết!
Cuộc sống của đồng bào Mông ở Suối Tọ còn nghèo khó, song làm ma lại rất tốn kém.
Nghi lễ cuối cùng là làm ma khô. Nghi lễ này diễn ra sau 13 ngày kể từ ngày chôn. Ý nghĩa của việc làm ma khô là đón hồn người chết về lần cuối cùng để thăm con cháu, anh em, họ hàng và nhận các vật cúng tế, sau đó lại tiễn hồn đi.

Trong lễ ma khô, nhà khá giả thì mổ một con trâu, nhà nghèo thì cũng đôi lợn hoặc dê để ăn uống linh đình. Thầy cúng treo xương hàm những con vật đã từng bị giết thịt trong lễ tang và lễ ma khô cắm trên các cọc gỗ trước nhà, hàm ý hồn ma chỉ được về tới đó, không được vào nhà.

Vừa đọc bài cúng tiễn hồn ma đi, thầy cúng vừa vãi những hạt đỗ tương, hoặc kê đã rang chín ra xung quanh nhà và đường đi với lời cảnh báo rằng: Chỉ khi nào hạt đậu, hạt kê đã rang chín ấy mọc lên thành cây xanh tốt thì ma mới có thể về quấy nhiễu người sống được.



-----------------------------------------------------

Săn thú rừng ở Đức

Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô. Đó là lời của một bài thơ mà tôi thích nói về mùa thu. Thế nhưng, mùa thu chúng tôi đi săn.


Ảnh minh họa: epa.gov.
Ảnh minh họa: epa.gov.

Gia đình tôi sống ở miền nam nước Đức, thuộc tiểu bang Bavaria tươi đẹp có nhiều núi cao và những cánh đồng và rừng thông trải dài theo đường quốc lộ. Chạy theo dòng sông Donau thơ mộng chảy qua 11 nước trong châu Âu còn có dòng sông Isar đi qua làng gia đình tôi đang sống.
Năm nay thu đến muộn. Nắng thu xuyên qua rừng lá đủ màu sắc. Lá phong ngả màu vàng đầy dưới đường mòn, lá sồi màu đỏ xếp cạnh hàng thông cao ngất và xanh mướt quanh năm. Hồi nhỏ, tôi cứ nghĩ ông van Gogh đổ màu lên tấm lụa chứ không phải vẽ, nhưng bây giờ sống và nhìn thực tế, tôi thấy nể họa sĩ này.
Chúng tôi đổ bộ vô một cánh rừng vùng thấp thuộc tiểu bang Bavaria, nơi cánh đồng bắp bạt ngàn tưởng chừng vô tận nằm cạnh cánh rừng thông. Cuộc họp và phân công của nhóm diễn ra chớp nhoáng. Bảy tay súng lấy giấy phép sử dụng súng cho một người cảnh sát làm trưởng nhóm kiểm tra theo thông lệ, dù mọi người đã quen biết nhau. Chúng tôi 9 người sẽ mặc áo có phát quang được phân công rõ việc từng người. Mỗi người cầm theo một cây gậy và tù và.
Cuộc săn bắt đầu. Anh cảnh sát đi ngang hàng với tôi thỉnh thoảng đưa súng ngắn lên trời bắn chỉ thiên. Mùa này, trời bắt đầu lạnh dù 10h sáng trời có nắng. Đôi giày cao cổ và quần áo ấm cũng không chống lại được vì tôi phải chui vô bụi gai hay đi xuyên qua hàng cây cành tua tủa, sương đậu trên lá rơi thẳng vào cánh tay và cổ áo. Chúng tôi luôn phát tiếng động bằng tiếng tù và hay tiếng súng của người đẫn đầu. Hai con chó không hề biết mệt chạy dọc rồi chạy ngang luôn sủa tiếng the thé. Nó nhỏ như con phốc thôi, khi thấy con heo rừng, nó chạy xung quanh con heo như muốn cắn chân con vật to và răng nanh dài nhọn đó. Con Snoopi giống chăn cừu của tôi được một ngày thả chạy cứ thè lưỡi vì mệt. Nó chưa đi săn lần nào.
Khi tiếng súng thợ săn đứng trên tháp chát chúa là khi những con nai bị hạ gục. Mỗi tiếng súng của thợ săn vang vọng cả núi rừng khiến những con thú chạy ra từ ruộng bắp hay từ cánh rừng. Mỗi khi một người phát hiện trong ruộng bắp là ngôi nhà của heo rừng hay nai sẽ thông báo cho mọi người bao vây. Những cái lưới được quăng ra, hai ba con nai nhỏ ngơ ngác trước sự có mặt của con người. Cuộc đi săn lại tiếp tục, tiếng súng thợ săn lại nổ.
Chúng tôi bước qua nơi đàn heo rừng tàn phá, cảnh tượng ruộng bắp bị cắn phá làm thiệt hại nhiều cho người nông dân. Năm ngoái, một con heo rừng 150 kg lao thẳng tới hướng tôi. Lúc đó, tôi đang chui qua từng cây bắp cao ngất đầu và miệng thổi tù và. Con heo rừng liền phóng qua trái chạy thẳng ra khỏi ruộng và bị một phát đạn bắn gục tại chỗ. Mọi người đứng lại nhìn tôi trong khi đó tim tôi đang ở trên cây. Chúng tôi phải dùng tới máy cày mới đem được con heo rừng xuống núi.
1h chiều, mọi người nghỉ và bàn tán công việc trong ngày. Tôi và hai người nữa được phân công thu gom chiến lợi phẩm. Nhóm thứ hai xuống con dốc mang heo rừng về. Chiếc Land Rover cào trên con đường mòn của xe khai thác gỗ, đi qua những vết mòn của nước mưa tạo dòng chảy.
Các bạn sẽ nghĩ tôi và những người thợ săn là kẻ độc ác khi nhìn đôi mắt nai tròn đã nằm bất động sau xe? Không đâu, chúng tôi ưu tiên những chú nai bé nhỏ bị bắt sống được về trước và chuyển nơi ở mới xa đường xe chạy. Ở đây bạn đi trên xa lộ cũng có thể nhìn thấy từng đàn nai rừng trên thảm cỏ bên rừng sau hàng rào lưới chắc chắn. Những con nai"vô tội" đó là có thể gây ra những tai nạn xe khủng khiếp khi chúng chạy ra đường.
Tuần này, đội săn chúng tôi hạ được ba con nai và bốn con heo rừng. Mọi người vui vẻ uống bia và món thịt nguội được chuẩn bị trước bên trong một căn nhà của chủ rừng sử dụng cho nghỉ đông. Trong lúc đi săn, tôi và thằng bạn cũng kiếm thêm được một túi nấm. Cứ theo vết chân của nai sẽ có nấm ăn được. Món nấm xào bên lò sưởi củi nhanh gọn cùng thịt nai làm mọi người cười vui vẻ gọi tôi là Chinese koch (đầu bếp Trung Hoa).
Cuộc sống là thế đấy, hai tuần nữa tôi lại đi săn với bạn bè đồng nghiệp. Thú nhất là đi trong rừng mùa này, không khí lạnh chưa có tuyết cộng thêm cảnh sắc núi rừng miền nam nước Đức biên giới với Áo thật hùng vĩ.
Chuyện tôi kể có thật, tôi cũng không giỏi văn nhưng xin các bạn đọc để biết cuộc sống của chúng tôi bên đây.
Huỳnh Thiện Thành

Góc tâm linh

Truyện thứ nhất

Tìm mộ chị tôi


Tác giả:  Trung tướng Trần Độ






1. Tìm mộ chị tôi

Tôi có hai bà chị: Chị cả tên là Tạ Thị Thi, sinh năm 1916 lấy chồng sớm và buôn bán làm ăn. Chị thứ hai là chị giáp tôi tên là Tạ Thị Câu, sinh năm 1919, tham gia hoạt động cách mạng từ 1936, khi có phong trào dân chủ, năm 1939-1940 là Tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Thái Bình. Tôi sinh năm 1923, từ năm 1938, được chị Câu tôi dìu dắt và tham gia hoạt động cách mạng. Chị Câu tôi giới thiệu tôi vào Đảng và tôi được kết nạp năm 1940. Tôi còn có một cô em gái sinh năm 1930 tên là Tạ Thị Xuyến. Năm 1940, ở làng tôi có cuộc mít tinh bí mật ở cánh đồng Đông Lang. Mit tinh bị lộ, tuần phiên và lính phủ (huyện) xông vào đánh và bắt mọi người. Thế là phong trào bị khủng bố. Chị tôi cùng tôi thoát ly gia đình cùng đi làm cách mạng chuyên nghiệp. 





 
 Liệt sĩ Tạ Thị Câu



Sau khi thoát ly, chị tôi rời xa địa phương và hay xuất hiện ở vùng Bắc Ninh và Hà Đông. Tôi đoán là chị tôi làm việc cho xứ uỷ Bắc Kỳ và không biết là làm gì? Khi tôi đã bị bắt, bị kết án 15 năm tù (1941) và bị đầy đi Sơn La (1942) thì tôi được biết chị Câu tôi ở Hoả Lò, hai chị em thường xuyên viết thư thăm hỏi nhau và kể chuyện. Thỉnh thoảng chị tôi còn gửi quà cho tôi. Chị tôi xé áo của mình ra khâu những chiếc khăn tay gửi cho tôi. Chị tôi ở Hoả Lò, ở tù chung với nhiều người, trong đó có chị Nguyễn Thị Minh Thái là vợ trước anh Võ Nguyên Giáp, chị Trương Thị Mỹ sau là Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam, và chị Nguyễn Thị Hằng sau là vợ tôi. Chị Câu tôi bị bắt khoảng năm 1941, tôi không nhớ rõ ngày tháng, chỉ nhớ rằng những năm tôi ở Sơn La (1942-1943 đến đầu năm 1944) chị em tôi vẫn liên lạc với nhau bằng thư từ.

Thế rồi đầu năm 1944 trên đường bị giải từ Sơn La về Hoả Lò để bị đầy đi Côn Đảo, vào sau Tết đầu năm 1944, thì tôi được Chi bộ nhà tù tổ chức cho trốn thoát để tiếp tục hoạt động cách mạng, tôi không được gặp chị tôi ở Hoả Lò như đã hẹn.

*********

Sau đó chị tôi ốm chết ở Hoả Lò vào ngày 29/09/1944 (ngày này được ghi trong giấy báo tử của chính quyền Pháp gửi cho mẹ tôi, sau khi chị tôi chết, và người làm gia phả họ tôi ghi nhận như vậy.)

Sau Cách mạng tháng 8/1945, tôi được bạn bè gửi cho 3 bức ảnh chân dung của ba người, đó là tôi, chị Câu và chị Hằng - vợ tôi. Ba ảnh này các bạn thu được trong hồ sơ của Sở Mật thám Hà Nội. Tôi vẫn giữ được đến bây giờ.

Chị Câu là chị sát tôi, hơn tôi 4 tuổi nên khi ở nhà (Thư Điền, xã Tây Giang, huyện Tiền Hải) chị tôi thường đi buôn bán các chợ xa phụ giúp cho mẹ tôi nuôi sống gia đình và chăm lo cho tôi học hành. Chị tôi yêu quý tôi lắm, hay mua quà cho tôi và hay tự hào khoe tôi với các bạn bè, lo cho tôi những khi tinh thần tôi khủng hoảng trước tình hình đất nước và dìu dắt tôi tiếp xúc với cách mạng. Khi tôi đã biết cách mạng, chị tôi trực tiếp giao công tác cho tôi và kiểm tra thử thách, khuyến khích, rồi giới thiệu tôi vào Đảng. Lúc đó tôi thường ra sức sao chép các tài liệu của chị tôi. Tôi còn nhớ, tôi chép cho chị tôi mấy cuốn sách và cũng là những nội dung tôi được học tập:

- Chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng do Phan Văn Hùm viết.

- Công tác vận động quần chúng.

- Công tác bí mật.

- Điều lệ Đảng cộng sản Đông Dương.

- Và một cuốn gì đó của Lê-Nin, mà tôi nhớ không rõ Tôi là học trò, chữ đẹp, được chép cho chị tôi, chị tôi cũng khen ngợi khuyến khích tôi nhiều lắm.



*********



Bây giờ tôi không còn nhớ rõ là tôi biết tin chị tôi chết từ bao giờ, (ngày nào, tháng nào). Tôi chỉ biết sau Cách mạng tháng Tám, tôi luôn ngậm ngùi thương nhớ chị tôi, và mỗi khi về nhà gặp mẹ tôi và em gái tôi thì đều nhắc đến chị tôi với lòng thương cảm và xót xa. Tôi rất thương xót chị tôi vì chị tôi không được biết tí gì mùi vị của thắng lợi và đã chết khi còn quá trẻ, chưa có gia đình. Tôi cũng không biết chị tôi đã yêu ai và có người yêu chưa? Có nhiều người hỏi tôi chuyện ấy, nhưng tôi chỉ trả lời: Không biết!



Thế rồi sau Cách mạng tháng Tám, cả nước lại đi vào cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và tôi bị cuốn vào đó, không có dịp nghĩ gì đến chị tôi nữa. Sau năm 1954, tôi tiếp tục ở quân đội, tôi vẫn say sưa công việc cũng không có ấn tượng gì về gia đình, thỉnh thoảng về thăm mẹ tôi, cũng chỉ biết ngậm ngùi thương nhớ chị, mà cũng không lúc nào nghị đến mồ mả của chị. Sau đó, từ 1964 tôi chuẩn bị đi B và đi B, tham gia chiến đấu cho đến năm 1974. Sau năm 1975, trong tôi hình thành một sự hiểu biết và một tâm lý là: chắc chị tôi bị đau ốm chết trong tù thì chỉ bị chính quyền Pháp chôn cất qua quýt ở đâu đó. Và cái nơi “đâu đó” chắc chắn là ở vùng Hoàng Mai, ở khu vực trường bắn của Pháp mà anh Hoàng Văn Thụ bị bắn ở đó. Tôi không biết và cũng không đến trường bắn đó bao giờ. Nhưng cái địa danh Hoàng Mai đối với tôi rất gần gũi, vì khi anh Hoàng Văn Thụ bị bắn tôi đang làm việc ở báo Cờ Giải Phóng của Đảng. Do anh Trường Chinh gợi ý, tôi có làm một bài thơ “Khóc anh Hoàng Văn Thụ”. Bài thơ lúc ấy được truyền tụng và được học thuộc rất nhiều. Tôi được biết bài thơ đó được có người viết lên một bức tường ở trường bắn nơi anh Hoàng Văn Thụ hy sinh. Sau này tôi được biết thêm, xã có cái trường bắn đó được mang tên xã (sau này là phường) Hoàng Văn Thụ. Tên đó gắn liền với cái chết của chị tôi.

*********

Đến những năm đầu của thập kỷ 90, tôi liên tục được nghe chuyện về các cuộc tìm kiếm mồ mả mà phần lớn là những cuộc tìm các mộ liệt sĩ hoặc là người thân của các gia đình cách mạng. Tôi có được đọc bài viết của anh Nguyễn Thọ Chân, của anh Nguyễn Hùng Phong và nhất là bài viết của anh Trần Phương kể lại quá trình anh nhờ các nhà ngoại cảm và gọi hồn để tìm mộ của người em gái là nữ du kích chết cách đây hơn 50 năm. Tôi còn được đọc một bản báo cáo tổng kết cuộc khảo sát các cuộc tìm mộ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên. Ông Liên là người chuyên tìm mộ cho các liệt sĩ ở khắp các chiến trường từ Nam ra Bắc đến cả Lào và Cămphuchia. Tôi còn được đọc bản tổng kết khảo sát 97 cuộc gọi hồn của một cô tên là Phương ở Hàm Rồng. Tôi còn đọc nhiều bài đăng ở các tạp chí về 2 người này và việc tìm mộ cứ gắn liền với việc gọi hồn. Tôi cũng đọc những bài báo bác các việc tìm mộ và gọi hồn, cho là mê tín dị đoan, cho là có nhiều sự lừa bịp. Nhưng những lý lẽ của các bài báo này không làm thương tổn được cái sự thật của các cuộc gọi hồn và tìm mộ. Tôi cũng đã trở thành một mục tiêu cho hai báo Tiền Phong và Cựu Chiến Binh tranh luận về việc tôi nhờ nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp về quê tôi xác minh hộ mộ ông bố tôi ở quê. Về sau các nhà báo rõ hết sự thật cuộc tranh luận mới yên.

Thế là từ đó trong tôi hình thành một ý muốn, một hy vọng tìm thấy mộ của chị tôi. Trong nhà, em gái tôi cũng là một người gắn bó nhiều kỷ niệm với chị Câu tôi và các con tôi chúng nó đều sinh ra sau khi chị tôi chết, nhất là con trai lớn tôi sinh ra năm 1947, có sống một thời gian ở quê với bà và các kỷ niệm của bác nó là chị Câu tôi, nó rất thương xót bác và rất tận tụy trong việc tìm kiếm.

Tôi nghe nhiều về các nhà ngoại cảm, mà tôi chưa được tiếp xúc trực tiếp bao giờ. Tôi vẫn nhận thức trìu tượng rằng: Đó là những người có những khả năng đặc biệt, nhìn thấy được những gì mà người thường không thấy, nghe được những âm thanh mà tai người thường không nghe được. Khi Đỗ Bá Hiệp về quê tôi xác minh mộ bố tôi, tôi cũng không có mặt. Chỉ có em gái tôi trực tiếp và xác nhận những điều Đỗ Bá Hiệp nói là chính xác.

*********

Tôi có quen với đồng chí Chu Phác, vì khi trước ở Quân khu III, anh Vương Thừa Vũ là Tư lệnh và tôi là Chính uỷ thì anh Chu Phác là thư ký cho anh Vũ. Anh Phác cũng là người giúp tôi nhiều trong việc lo cho hậu phương của tôi trong 10 năm, tôi ở trong B2. Bây giờ tôi gặp lại anh Chu Phác, và được biết anh Chu Phác đang quan tâm nghiên cứu tâm lý học và quen rất nhiều nhà ngoại cảm. Anh Phác cũng là thủ trưởng một trung tâm nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu tiềm năng con người” (bộ môn cận tâm lý), và là Chủ tịch Hội tâm lý giáo dục. Với tình thân cũ, tôi ngỏ ý muốn nhờ anh Phác giúp đỡ tìm các nhà ngoại cảm giúp cho việc tìm mộ chị tôi. Qua các câu chuyện, tôi thấy anh Phác quen biết rất nhiều nhà ngoại cảm nổi tiếng: như anh Liên, cô Bích Hằng, cô Phương (Thanh Hoá), anh Nhã ở Thành phố Hồ Chí Minh ...v.v...

Và anh Chu Phác đã đồng ý sẵn sàng giúp tôi.

Trước đó, khoảng (1996-1997) nhờ một người bạn tôi giúp đỡ tôi đã liên hệ điện thoại được với anh Liên ở Hải Dương và bằng điện thoại gặp được với bà Cườm cũng ở Hải Dương. Qua điện thoại, tôi chỉ nói và nghe được vài câu. Tôi nói: “Tôi có một bà chị bị tù ở Hỏa Lò và ốm chết trước Cách mạng tháng Tám, không biết bây giờ mộ ở đâu?” Anh Liên thì nói “Còn mộ đấy, có thể tìm được”. Bà Cườm thì nói: “Ông đứng ở trước cửa Hỏa Lò, chiếu thẳng về hướng Nam, cách độ hơn 1 km đến 2 km thì mộ còn ở vùng đó đấy. Nhưng sợ rằng bây giờ nhiều nhà cửa đã xây lên, nếu mộ đó mà dưới nền các ngôi nhà đã xây thì khó tìm đấy”. Tôi đối chiếu bản đồ thì thấy rõ khu vực bà Cườm chỉ là ở vào vùng Bạch Mai, Hoàng Mai.

*********

Anh Phác rất bận và tôi ít được gặp. Mãi đến giữa năm 2000 tôi mới liên hệ được với Chu Phác, tôi cũng chỉ tính nhờ Chu Phác môi giới cho tôi được gặp Phan Thị Bích Hằng, để nhờ gọi hồn và tìm mộ chị tôi. Tôi có nghe nói nhiều đến cô Phương ở Hàm Rồng. Còn Phan Thị Bích Hằng thì tôi được nghe kể về nhiều thành tích tìm mộ liệt sĩ của cô, nổi nhất là cuộc tìm mộ liệt sĩ ở Non Nước (Ninh Bình). Nhưng anh Chu Phác cho là tôi không thể ăn trực nằm chờ lâu ở Hàm Rồng được. Nhưng anh Phác hứa sẽ tìm cách giúp tôi theo một phương pháp mà anh đã làm ở nhiều cuộc. Phương pháp đó đại khái như sau:

Việc tìm mộ phải tiến hành nhiều bước:

Bước một. Nhờ một số nhà ngoại cảm, mỗi người độc lập nhận thông tin, rồi phát biểu những thông tin thu nhận được về bà chị tôi. Có cuộc đối chiếu các nguồn thông tin độc lập đó lại với nhau và tìm một đáp số đúng nhất.

Bước hai. Tiến hành một số thử nghiệm theo phương thức ngoại cảm, nghĩa là có những cách thử nghiệm bí ẩn.

Bước ba. Sau khi thống nhất được các thông tin để có một thông tin chính xác và có sự thử nghiệm rồi mới tiến hành làm các thủ tục để khai quật. Khi khai quật vẫn phải có các nhà ngoại cảm trực tiếp hoặc gián tiếp (qua điện thoại) theo dõi và hướng dẫn điều chỉnh, cho đến khi tìm được hài cốt cụ thể.

*********

Diễn biến thực tế các bước thực hiện.

1/ Ngày 4/8/2000, một nhà ngoại cảm tên là Nguyễn Khắc Bảy, một thanh niên trẻ mảnh khảnh đến nhà tôi (ở 97 Trần Hưng Đạo). Anh ngồi trước mặt, đối diện với tôi và chăm chú nhìn tôi, hỏi tôi đôi điều rồi lấy giấy bút vẽ một sơ đồ. Tóm tắt những thông tin mà anh Bảy cho biết là mộ chị Câu tôi còn và nằm gần mộ ông Hoàng Văn Thụ, trong vùng bãi bắn Hoàng Mai, thuộc xã Hoàng Văn Thụ. Mộ bà Câu ở bên cạnh một vũng nước, trong một khu vực có nhiều mộ và có những bộ hài cốt đã rời đi.

Khu vực này có những công trình kiến trúc lớn như đình, chùa, trường học, xưởng máy và đường xá ngoằn nghoèo.

2/ Ngày 25/11/2000, anh Chu Phác và một nhà ngoại cảm khác tên là Dương Mạnh Hùng đến nhà tôi. Anh Hùng là một thanh niên to béo khoẻ mạnh. Anh Hùng ngồi cạnh tôi, nắm tay tôi (về sau tôi được biết như thế là “bắt mạch thái tố”).

Anh Hùng hỏi tôi mấy câu về thân thế, rồi hỏi: “Trong nhà bác có ai là một người nữ mà chết lúc còn rất trẻ không?” Tôi trả lời là “Có. Và đó chính là bà chị tôi, mà nay tôi muốn tìm mộ đấy”. Đến đây, anh Hùng nhìn chăm chú vào khoảng không trong một góc phòng và xin tôi tờ giấy trắng và cái bút rồi anh ấy lẩm bẩm: “Đã xuất hiện đấy. Bà ấy đã xuất hiện đấy” và anh phác ra một khuôn mặt trên một tờ giấy. Từ đấy, anh Hùng cứ nắm chặt tay tôi và nhìn chăm chú vào góc phòng và bắt đầu nói chuyện. Tôi muốn rút tay ra, nhưng anh Hùng không cho và nói rằng “Tôi rời tay bác ra thì bà ấy biến mất”.

Và cũng từ đây cuộc nói chuyện diễn ra giống như anh Hùng nói chuyện với một người vô hình. Anh hỏi và được người vô hình ấy trả lời, anh lại nói lại cho tôi biết. Tóm tắt, những thông tin thu được là:

Bà Câu là một người con gái trẻ đẹp, to béo, bị ốm, phù rồi chết. Mộ bây giờ ở một nơi giống bãi tha ma, muốn đi tới, phải qua những con đường ngoằn nghoèo, có tên là Bạch Mai, Trương Định, Hoàng Mai. Mộ ở gần một cái chùa và một cái đình, gần một hàng nước mà ông chủ là một ông già độ 60 tuổi tên là Trúc, bà vợ tên là Thu. Vong bà Câu hay về nhà ông Trúc. Dân quanh đấy có làm nghề đậu phụ, gần một cái chợ. Mộ bà Câu ở gần một cây hoa râm bụt đỏ, có một cây hoa trinh nữ trắng, gần một bãi phẳng như một bãi bóng...

Bà Câu chết vào năm Giáp Thân, tức 1944, vào mùa thu, tháng 8, vào đêm 26 rạng ngày 27 (âm lịch).

Về ngày tháng chết này thì ở trong gia phả họ Tạ ở Tây Giang ghi là 29/9/1944 (theo giấy báo tử của chính quyền thực dân Pháp gửi về cho bà mẹ bà Câu).

Đối chiếu lịch vạn niên thì ngày 29/9 dương lịch ứng vào ngày 13/8 âm lịch năm 1944 (Giáp Thân). Một nhà ngoại cảm tên là Tô Xuân Đạo thì nói ngày chết của bà Câu vào tháng chẵn, ngày lẻ (vận ngày 13 hay 27 cũng là ngày lẻ, chưa xác định lại được ngày nào). Theo trí nhớ của vợ tôi là Nguyễn Thị Hằng, lúc đó cùng ở tù với chị Câu, thì bà Hằng nói: Một buổi sáng, bà Hằng đến làm vệ sinh ở chỗ bà Câu thì thấy bà Câu đã chết cứng. Tức là bà Câu chết vào lúc gần sáng. Bà Hằng có nói, bà Câu chết năm trước thì năm sau Nhật đảo chính Pháp, và tiếc rằng bà Câu không sống thêm mấy tháng nữa để trốn khỏi nhà tù. Năm sau là 1945, vậy năm trước đúng là năm 1944 (Giáp Thân). Hài cốt bà Câu còn được một chứng tích đó là hàm răng đen của bà, bị gãy mất một cái. Bà rất đồng ý cho bốc hài cốt của bà và đưa về quê hương. Hùng hai lần hỏi bà câu này và hai lần đều nói lại với chúng tôi là bà gật đầu.

Qua buổi này, tôi rõ ràng được trực tiếp mục kích sự hoạt động của nhà ngoại cảm: Đó là người có những khả năng đặc biệt mà người khác không có. Đó là họ nhìn được những gì mà người khác không thấy. Họ nghe được những âm thanh mà người thường không nghe được, không phải nghe bằng tai mà họ nghe thấy ở trong đầu. Họ có khả năng nhìn được xa, nhìn được những vật thể bị lấp sau rất nhiều vật ngăn cách. Vì vậy, họ có thể vẽ lại sơ đồ những vùng đất cách xa họ hàng nghìn cây số mà bản thân họ cũng chưa đến bao giờ. Những nhà ngoại cảm mà chúng tôi đã gặp gỡ trong cuộc tìm kiếm này đều tỏ ra có nhiều khả năng. Họ có thể dự báo dự đoán (và ta vẫn gọ là xem bói), họ có thể nói tiền vận, hậu vận, gia thế và thân phận của người gặp. Nhiều người có khả năng tiếp xúc, giao thiệp với các vong hồn mà họ cầu xin tiếp và gặp. Những vong hồn này lại có thể cho họ biết nhiều thông tin quan trọng.

3/ Ngày 26/11 và 27/11, anh Chu Phác đi cùng Nguyễn Khắc Bảy và Dương Mạnh Hùng đến làng Hoàng Mai tìm đến chùa Nga My và đình làng Hoàng Mai (nơi thờ Trần Khát Chân) và tìm đến khu vực nghi thờ có mộ bà Câu. Ngày 27/11, anh Chu Phác cùng với 3 người: anh Bảy, anh Hùng và cô Thẩm Thuý Hoàn ghé nhà 97 Trần Hưng Đạo, báo cho tôi biết là các anh đi đến thực địa để kiểm tra lại những tin tức về địa hình đã thu nhận được.

Cô Hoàn nói thêm là hài cốt bà Câu nằm chếch, đầu gối vào một cột trụ, bị cột trụ đè lên một ít, chân ở phía đường đi.

Mấy người thấy rõ ở thực địa, đình, chùa, bãi phẳng và một khu trống độ mấy chục mét vuông trong đó có rất nhiều mộ và có mộ bà Câu nằm ở một vị trí bên cạnh một vũng nước, cách 1 cây đại hoa trắng (3-4m), cây đại cao hơn bức tường bao quanh, cạnh 1 bụi cỏ khô (cách 1m-1m50). Bụi cỏ khô này ở trên một cái thùng phuy cao độ hơn 1 mét. Mộ chỉ là một mô đất cao độ 10-20cm nằm ở gần một đầu trường và bên cạnh con đường xi-măng nhỏ. Địa điểm này ở sau đình và gần chùa.

4/ Cô Bích Hằng có tham gia vào cuộc tìm kiếm này. Ngày 26.11.2000, Bích Hằng nói ở văn phòng 46 Nguyễn Văn Ngọc: Đến làng Hoàng Mai, hỏi chùa Nga My cách một vườn vài chục mét.

Ngày 1.12.2000, Bích Hằng nói thêm: Mộ ở nơi đất bằng phẳng cạnh gốc cây chuối gần chùa Nga My và đền thờ Trần Khát Chân, có cây hoa đại, mộ nhìn lên hàng rào dây thép gai, ở đầu nhà. Bà Câu mặt bị sưng to và nằm nghiêng, sâu độ 70-90cm. Mộ không có tiểu khi đào phải cẩn thận.

5/ Ngày 13.12.2000, con cả tôi là Trần Thắng, sinh năm 1947, sinh sống ở TP Hồ Chí Minh. Tôi gọi cháu ra để làm chủ lực trong cuộc tìm kiếm này thay tôi, tôi đau ốm không đi lại được. Hồi đầu tháng 11/2000, Thắng đưa tôi từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội đã biết có cuộc tìm kiếm này, và rất quan tâm hỏi han nhiều. Thắng cũng tỏ ra rất thương xót bà bác ruột của mình. Trong dịp đó, Thắng cũng trực tiếp gặp anh Chu Phác và được anh Chu Phác bàn bạc kế hoạch tìm kiếm. Tôi hẹn cháu ra Hà Nội vào ngày 11 hoặc 12 tháng 12. Nhưng cháu liên hệ với anh Chu Phác, và anh Chu Phác yêu cầu Thắng phải liên hệ với anh Nguyễn Văn Nhã, một nhà ngoại cảm ở TP Hồ Chí Minh.

Ngày 10.12 dương lịch, Nguyễn Văn Nhã đáp ứng yêu cầu của Thắng, nói mấy chi tiết cụ thể (qua điện thoại):

A/ Vị trí của mộ đúng như các nhà ngoại cảm ở Hà Nội đã nói.

B/ Cách mộ độ hơn 3m về phía Tây có 1 cây hoa đại, hoa trắng cao 3m.

- Cạnh mộ, cách 1m50 có bụi cỏ khô cao hơn 1m.

- Trên mộ có 3 mảnh thuỷ tinh hoặc sành lấp lánh.

- 5 hôm nữa, anh đến thì cách mộ mấy mét có con gà trống kiếm ăn ở đó.

- Mộ gần vũng nước.

Thắng ra đến Hà Nội này 13.12.2000 và ngay lập tức Thắng hoạt động ráo riết để thúc đẩy cuộc tìm kiếm đi tới kết quả. Từ 13.12, Thắng rất nhiều lần xuống thực địa vùng nghi là có mộ bà Câu để khảo sát địa hình và đối chiếu với những gì các nhà ngoại cảm Hà Nội và Nguyễn Văn Nhã đã nói. Thắng liên hệ nhiều với những dân cư làm nhà thành xóm ở chung quanh cái bãi có mộ bà Câu và hỏi thăm được rất nhiều tin tức cần thiết cho việc tìm kiếm và bốc mộ.

Ngày 14.12.2000, đúng sau 5 hôm đúng với ngày Thắng nói với anh Nguyễn Văn Nhã ở TP Hồ Chí Minh (tức là từ ngày 10/12 đến ngày 14.12), Thắng đến thực địa thì quả có thấy một con gà trống xuất hiện ở chỗ mà anh Nhã nói. Con gà này vốn thường bị nhốt trong chuồng gần đó. Nhưng đúng ngày đó, nó lại ra ngoài và đi chơi. Nó xuất hiện một lúc, rồi nó lại về chuồng. Hôm ấy anh Chu Phác cùng đi với Thắng và cũng cùng thấy con gà trống ấy.

6/ Có một việc thu hút người tham gia nữa là: anh Chu Phác giới thiệu và gia đình tôi có cô em gái tôi và cháu Thắng là hai người ruột thịt của bà Câu tìm đến bà Lương Thị Thanh Hà, người có khả năng gọi hồn, nhờ gọi giúp chị Câu về để gia đình nói chuyện.

Ngày 15.12.2000, cô Xuyến và Thắng đã đến gặp bà Thanh Hà. Qua cuộc bà Hà tiếp xúc với vong hồn chị Câu và cho biết: chị Câu bị chết trong một hoàn cảnh đau đớn và khổ nhục lắm. Chỗ mộ đang tìm là đúng mộ bà Câu rồi, cần phải gấp rút tìm cách đưa về quê. Việc đưa về quê phải tiến hành long trọng đầy đủ. Bởi vì khi sống là cán bộ quan trọng, nay cũng là người quan trọng ở dưới âm. Việc đưa đón không được sơ xuất.

7/ Nhiều lần tôi cũng muốn đến nơi để xem xét tình hình, nhưng mọi người đều nói đường hẹp, ngoằn nghoèo khó đi, tôi chưa đi được, nhưng có Thắng cho biết xe vào được đến đình Hoàng Mai và từ đình ra chỗ đó mất 100m. Tội tự thấy mình đi được. Vậy là một hôm, khoảng 18.12, tôi cùng Thắng đến chỗ đó. Tôi đã được nhìn thấy chỗ nghi là mộ chị Câu, tôi đến thắp hương và khấn chị. Tôi thấy rõ tận mắt và nhớ kỹ:

Mộ là một mô đất cũ, đất đã đen, cạnh con đường xi măng nhỏ, gần một đầu tường cụt và bên cạnh một vũng nước dài đến 2m, rộng khoảng 1m. Con đường đi từ một nhà dân ra chỗ này. Đây là một khoảng trống độ 30m2, chung quanh có tường và nhà che kín hết. Nhà dân mà chúng tôi ghé nhờ làm bàn đạp để đi ra mộ là nhà chị Ngà. Chị ấy rất quen thuộc với các cuộc tìm kiếm và bốc mộ ở đây và cho nhiều lời khuyên bổ ích. Cái vùng mấy chục thước vuông này còn rất nhiều mộ, độ một chục mộ đã dựng bia đầy đủ. Tôi quan sát và tôi thấy rõ được ngọn cây đại nhô lên từ bức tường hướng ở Tây, cách mộ chị tôi hơn 3m, tôi thấy rõ lùm cỏ khô ở trên cao hơn 1m, vì lùm cỏ này mọc trên một cái ống xi măng dựng đứng.

Tôi trao đổi với Thắng và Chu Phác, xác định là: - Địa điểm mộ chị Câu coi như đã xác định được, hơn 90% rồi. Đến lúc này tất cả các thông tin về địa hình và đường dẫn ngôi mộ, tất cả các địa tiêu chung quanh mộ đều được chỉ ra thống nhất, tuy cách diễn đạt có khác nhau và có đôi chút sai lệch. Nhưng đặc điểm về địa điểm cụ thể của ngôi mộ thì đều thống nhất cả. Tôi cũng đã tận mắt nhìn thấy hình thù đất chỗ ngôi mộ. Cần phải tổ chức bốc mộ sớm. Trong khi bốc sẽ nhờ các nhà ngoại cảm theo dõi và điều chỉnh cho việc khai quật đạt được trúng mục tiêu.

Anh Phác còn muốn làm một thử nghiệm nữa, yêu cầu Thắng bốc nắm đất ở giữa nơi nghi là mộ và vài nắm đất ở chung quanh đem về Thái Bình (Vũ Thư) nhờ một ông thầy xác định hộ. Nghe nói việc xác định này chính xác lắm. Thắng gấp rút đi Thái Bình ngay, nhưng đến nơi thì ông thầy có thiện ý ưu tiên cho mộ liệt sĩ (chị Câu là liệt sĩ) nhưng ông thầy đông khách quá, những khách đã chờ lâu cũng có đến dăm chục. Thắng thấy tình hình là phải chờ thì phải chờ đến 15-20 ngày, hoặc ít nhất và được ưu tiên chăng nữa cũng phải mất hàng tuần, Thầy lại còn bận nhiều loại lễ lạt khác nữa. Nên Thắng đã trao đổi với anh Chu Phác và xin thôi không làm thử nghiệm nữa. Vì rằng căn cứ vào những thông tin đã có, ta có thể chắc chắn đến hơn 90% rồi, đặc biệt là anh Nhã ở TP Hồ Chí Minh mà cũng cho những thông tin trùng với Hùng, Bẩy, Hằng ở Hà Nội.

Năm sắp hết, Tết sắp đến, nếu không khẩn trương thì việc kéo dài đến sang năm mất.

Thắng cũng không thể ở Hà Nội thời gian quá dài được.

8/ Sau khi cân nhắc, thì cả tôi và anh Phác, Thắng đều chọn hai thời điểm để tiến hành bốc mộ, và đó là rơi vào những ngày tốt, việc bốc mộ tiến hành sẽ được thuận lợi.

Đó là ngày 20-21 tháng 12 dương lịch tức 25-26 tháng 11 âm lịch. Lúc này đã là 18-19/12 rồi, sợ gấp quá, không chu đáo được. Vì thế chúng tôi chọn thời điểm thứ hai tức là ngày 27.12 dương lịch tức là mồng 2 tháng chạp âm lịch.

*********

Ngày 27.12.2000, tức 02 tháng Chạp năm Canh Thìn. Cả nhà tôi tập trung xuống mộ, thuê người khai quật. Việc khai quật được tiến hành lúc 9 giờ sáng là giờ tốt. Anh Phác cũng có mặt và chỉ đạo.

Sau đó việc khai quật phải tạm dừng vì không thể tiến hành khi có mặt trời soi, sợ sẽ tổn thương đến hài cốt. Đến 5 giờ chiều (17 giờ) việc khai quật lại tiếp tục. Đến 20 giờ thì đã đào sâu được 60-70cm và huyệt bị nước mạch trào vào, phải dùng máy bơm, vừa bơm vừa tát nước vừa đào, vẫn chưa thấy được dấu tích gì.

Lúc này tôi hơi hoang mang, vì tôi vẫn lo rằng khi đào thực địa, có thể lại có sai lệch, mà không tìm được trúng mộ chị tôi, như nhiều trường hợp khác, tôi đã đọc thấy.

Lúc này bên cạnh chúng tôi, không có nhà ngoại cảm nào để hỏi ý kiến. Bích Hằng thì đi xa Hà Nội, không có liên hệ, các người khác thì đều vướng bận (hoặc đi học, hoặc đi công tác).

Nhưng những người tham gia đào thì là những người đã đào nhiều và cũng đào nhiều ở vùng này và cho biết: Họ có khả năng xem xét hài cốt mà khẳng định được hài cốt nam hay hay hài cốt nữ hoặc cỡ to nhỏ của các cháu ở chỗ đào về cho tôi biết là đã đào sâu hơn 2m và đã chạm vào một cái tiểu sành. Lúc này Thắng nhớ lại những thông tin của bà Phượng ở Đại Kim. Bà Phượng nói:

- Địa điểm mộ là đúng rồi.

- Hài cốt còn và ở trong hòm gỗ, hòm đã vỡ.

- Phải đào sâu khoảng 1m80 đến 2m, mới tìm thấy.

Tôi lại càng hồi hộp. Vì tất cả các nhà ngoại cảm không ai nói được rằng chị tôi đã có nằm trong tiểu. Bích Hằng chỉ nói khi chị tôi chết thì người bị phù và bị chôn nằm nghiêng. Những người khác thì người nói chị tôi bị chôn trong hòm gỗ, người thì bảo không có hòm.

Tôi thì tôi suy đoán: Khoảng những năm 40 ấy thân phận một người tù (mà lại tù Cộng sản) thì khi chết không thể được chôn cất chu đáo. Nhiều lắm thì cũng có motọ áo quan gỗ tạp, và rất có thể là một bó chiếu. Có thể không đến nỗi nhếch nhác như những người chết đói năm 45 hoặc những người bị tàn sát bởi bom đạn và càn quét. Vì tôi vẫn chờ đợi rằng thi hài chị tôi sẽ chỉ là những nắm bùn đất đen ngòm lẫn xương với đất. Cần phải nhặt nhạnh từng mảnh xương. Và sẽ cố gắng tìm hàm răng đen mà tôi tin chắc là của chị tôi.

Sau này Thắng có cho tôi biết là anh Nhã có nói là anh linh cảm thấy rằng hài cốt của chị Câu có thể còn nguyên vì anh thấy tín hiệu phát ra mạnh lắm và tín hiệu mạnh ấy làm nhiều người ngoại cảm đều có thể tìm thấy địa điểm của ngôi mộ.

Lúc này anh Phác có liên hệ điện thoại được với anh Nhã ở TP Hồ Chí Minh. Anh Nhã lúc 16 giờ có hướng dẫn:

- Đào sâu 60-70 cm nữa.

- Đào chếch về phía người mặc áo xanh nhạt.

- Đào về phía rãnh nước.

Thẩm Thúy Hoàn lúc 9 giờ 30 cũng đến xem chỗ đào và xác nhận là đào đúng chỗ rồi, lúc 16 giờ 10 qua điện thoại, cô Hoàn cũng hướng dẫn thêm:

- Đào về phía rãnh nước.

- Đào sâu đến hơn 2m.

- Đào vuông thành sắc cạnh, đừng đào lòng chảo.

Bà Lương Thị Thanh Hà cũng khẳng định chỗ đào đúng rồi và bà cam đoan: Tôi nói tôi chịu trách nhiệm.

Lúc 21 giờ 30, khi anh Nhã được thông báo là đã đào chạm tiểu, thì anh Nhã cho biết: Trước đây có gia đình họ đã đào để tìm mộ nhà họ, nhưng họ thấy nhầm lẫn nên họ đã đưa hài cốt bà Câu vào tiểu và chôn lại cẩn thận tử tế. Thông thường ở nhiều nơi cũng có việc làm như vậy.

Cũng lúc này anh Nhã còn nhắc nhở là phải khấn các vong linh phù hộ cho bớt nước ở các mạch tràn vào huyệt. Con tôi, Thắng có cho tôi biết: Thắng có thực hiện sự khấn vái và quả là nước có bớt đi, có giảm sức tràn vào huyệt, việc đào bới tiếp tục và được thuận lợi hơn.

Các người dân chung quanh chỗ đào đã chứng kiến nhiều cuộc đào nhầm, cũng đã khẳng định rằng: Có như vậy. Cái tiểu đựng hài cốt chị Câu là cái tiểu có tuổi thọ khá cao cách đây mấy chục năm rồi. Đó là phong tục thông thường của dân ta.

Vậy là hài cốt chị Câu còn gần như nguyên vẹn. Xương sọ còn nguyên và rất to (lúc ở nhà chị tôi là người cao lớn và béo tốt) hai hàm răng còn gần như đủ và là răng đen.

Những người đào khi bốc hài cốt, có nhận xét là xương chân tay to thế này là xương của người to lớn. Và khi đưa ảnh của chị Câu cho họ xem họ đối chiếu với xương sọ, thì họ bảo là rất khớp và đúng đây là mộ bà Câu.

22 giờ 30 thì mọi sự chuyển cốt sang tiểu mới quách mới, có rửa nước thơm, ướp trà thơm và bọc trong vải đỏ đầy đủ, đã hoàn thành xong xuôi.

Sau đó Thắng và em là Quang, cùng một cháu trong họ về lấy ảnh, lấy bia khắc sẵn và bát hương đưa bà Câu đi ngay về Thái Bình.

Thế là việc tìm mộ và bốc mộ chị Tạ Thị Câu nhà tôi hoàn thành vào 24 giờ ngày 27.12.2000 tức 02 tháng chạp Canh Thìn.

Gia đình tooi hoàn thành được việc quy tập các hài cốt Bố tôi, Mẹ tôi, Chị tôi về quê ở làng xã quê quán. Chị tôi được chấm dứt 56 năm bơ vơ đất khách.

Ngày 28.12.2000 tức 03.12 Canh Thìn, hài cốt chị Câu được để ở nhà lễ truy điệu được cử hành và hài cốt được đưa ngay đến nghĩa trang trung tâm huyện.

Cả nhà tôi sung sướng.

Cả họ tôi vui mừng.

Cả làng tôi đều vui vẻ.

Lễ tang đã tiến hành trọng thể nơi ngôi nhà và miếng đất chị tôi đã được sinh ra và lớn lên trong ngày 28.12.2000.

Gia đình tôi làm xong được một việc lớn, giải toả được nỗi ân hận của tôi, em tôi và con tôi từ mấy chục năm nay. Tôi rất chân thành cảm ơn anh Chu Phác và các nhà ngoại cảm: Nguyễn Khắc Bảy, Dương Mạnh Hùng, Thẩm Thuý Hoàn, Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Văn Nhã, Tô Xuân Đạo, và cả anh Nguyễn Văn Liên, bà Cườm, chị Lưong Thị Thanh Hà, chị Nguyễn Thị Phượng là những người đã góp sức giúp gia đình tôi việc này.

*********

Tôi nhận thấy các nhà ngoại cảm có khả năng đặc biệt là có thật. Tôi được đọc, được nghe nhiều, tôi thấy đây là một sự thật. Và sự thật đó là có rất nhiều người có tài lạ. Tài lạ đó, ta nghe lần đầu thì coi như không thật. Vấn đề là hiện nay mọi người nên đối xử với những tài lạ này như thế nào? Không thể có kiểu bác bỏ một cách thô thiển và giản đơn, cũng không thể nguỵ biện để bác bỏ. Mọi ngụy biện sẽ đều sụp đổ trước sự thật hiển nhiên.

Các thông tin, các nhà ngoại cảm thấy không thể lúc nào cũng chính xác và chính xác 100%. Vì sự thu nhận của họ (trông thấy và nghe thấy) cũng có nhiều yếu tố thời gian và không gian tác động. Trường hợp của tôi, tôi thấy có nhiều chi tiết sai lệch nhau và không đúng hẳn. Nhưng những thông tin đúng và khớp nhau thì nhiều.

Riêng tôi, tôi thấy tôi có đủ căn cứ và nhất là linh cảm thấy có một sự tin tưởng vững chắc vào khả năng của các nhà ngoại cảm.

Tôi thấy đó là những năng lực lớn không phải chỉ có ích cho sự tìm mộ và gọi hồn để giải quyết những vấn đề gia đình. Mà rất có thể huy động những năng lực này vào việc xây dựng đất nước về văn hoá, chính trị, nhưng không nên và không được phép vì bất cứ lý do gì mà bài bác, mà kỳ thị và thậm chí cấm đoán.

Có tài Lạ (ngoại cảm, chữa bệnh) mà có một người dân biết đến, là cần có chính sách đối đãi và sử dụng, chứ không thể kiếm cớ “không có giấy phép” để ngăn ngừa cấm đoán. Chỉ có cuộc sống và nhân dân là người phán xét chính xác và công bằng hơn nhiều cơ quan “có quyền cho giấy”.

Ngày 30.12.2000

Tức ngày 5 tháng chạp Canh Thìn
Trần Độ
(97 Trần Hưng Đạo - Hà Nội)
ĐT: 9.424673

------------------------------------

Chú thích:

- Hiện nay tôi còn có băng ghi âm cuộc nói chuyện của Dương Mạnh Hùng và băng ghi âm cuộc nói chuyện (gọi hồn) của chị Lương Thị Thanh Hà với em gái tôi.

- Tôi cũng có một băng ghi hình cuộc khai quật hài cốt chị Câu và tang lễ ở quê nhà.

+++++++++++++

Mấy cảm nghĩ nhân đọc bài “Tìm mộ chị tôi” của tướng Trần Độ.

CCB - Trần Minh Tâm

Tướng Trần Độ xuất thân trong một gia đình bậc trung nông thuộc Huyện Kiến Xương Tỉnh Thái Bình Bắc Bộ Việt Nam. Sinh ra và lớn lên chứng kiến hoàn cảnh nước nhà bị thực dân Pháp và Phong Kiến triều Nguyễn suy tàn cai trị, đất nước chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do nên ông đã sớm giác ngộ lòng yêu nước. Trong gia đình không chỉ riêng một mình ông sớm dấn thân vào công cuộc tham gia cách mạng giành độc lập nước nhà, mà còn có nhiều anh chị em ruột khác nữa. Lúc đầu, ông cũng như bao nhiêu người Việt Nam yêu nước khác đều thiển nghĩ cách mạng cộng sản, chủ nghĩa Mác - Lê nin, hình ảnh một nước Nga Xô Viết XHCN tươi đẹp có bản chất chế độ ưu việt là một tấm gương thôi thúc tất cả những người Việt Nam yêu tổ quốc phấn đấu xây dựng. Liên Xô hôm nay (ngày ấy) sẽ là hình ảnh của Việt Nam ngày mai. Chủ nghĩa Cộng sản sẽ là mùa xuân vĩnh hằng của nhân loại, sẽ là thiên đường, sẽ là thế giới đại đồng của cả nhân loại đau khổ vì chủ nghĩa đế quốc và thực dân....vv và vv...

Trên bước đường dấn thân tranh đấu cho cuộc cách mạng cộng sản, mà ông cũng như nhiều bậc tiền bối khác đều tâm niệm rằng: Cuộc cách mạng này nó thực sự là cứu cánh cho đất nước và là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam sáng lạn tự do dân chủ và phú cường. Nhưng hơn 70 năm qua cùng với cả dân tộc đổ biết bao nhiêu xương máu, biết bao nhiêu hy sinh tang tóc, cuối cùng chỉ dành lại một nước Việt Nam nghèo đói nằm trong những quốc gia nghèo khổ cùng cực nhất trên thế giới, nhân dân vẫn phải sống cảnh lầm than tăm tối hơn thời thực dân Pháp và Phong kiến trước đây. Các quyền tự do dân chủ căn bản của con người, của nhân dân bị chính cái Nhà nước mà ông và các đồng chí của mình góp phần xây dựng nên tước đoạt. Người dân và kẻ sĩ như phải sống trong cảnh mất Nước, như trong vùng bị phát xít và thực dân tạm chiếm đóng. Tâm trạng của những người Cộng sản lão thành tiền bối có liêm sỉ, có nhân cách, có lòng tự trọng đều khắc khoải và đau buốt nỗi nhục lớn lao đó.

Ông Nguyễn Hộ là một lão thành cộng sản kỳ cựu cũng có hoàn cảnh gia đình tương tự giống như cụ Trần Độ, là đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình, cả cuộc đời mình cho cuộc cách mạng cộng sản ảo tưởng và lãng phí. Ông đã khắc họa trên tác phẩm Quan điểm và cuộc sống của mình từ năm 1993 thật đắt giá và sâu sắc: “Gia đình tôi đã có vợ tôi chết, anh ruột tôi chết, cả cuộc đời tôi hy sinh đi làm cách mạng Cộng sản, nhưng hơn 60 năm qua đổi lại nhân dân và đất nước chẳng được gì nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói, mất tự do dân chủ. Cuộc cách mạng Cộng sản mà tôi và bao lớp người Việt Nam yêu nước theo đuổi chỉ là vô ích và là một sỉ nhục lớn!”.

Cuộc đời của các bậc tiền bối cộng sản và gia đình họ như những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Vũ Đình Huỳnh, Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, La Văn Lâm, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hữu Đang... Nó không chỉ là bi kịch của riêng bản thân các vị công thần góp phần tạo dựng ra chế độ Cộng sản này, mà nó còn là bi kịch của cả một dân tộc đầy đau thương uất hận và chia rẽ, và nguồn gốc sâu xa chính là chủ nghĩa Mác - Lê nin, học thuyết Cộng sản đấu tranh giai cấp giầy xéo đất nước khốn khổ này hơn 70 năm qua. Cuộc cách mạng đã bị phản bội, mục tiêu của cuộc tranh đấu đã bị đánh tráo, lòng yêu nước của nhân dân đã bị lợi dụng và tha hoá vào việc xây dựng mô hình một nhà nước không tưởng, ngông cuồng và dồ dại.

Trong gia đình tướng Trần Độ cũng có một bà chị ruột tham gia làm cách mạng Cộng sản bị thực dân Pháp bắt bỏ tù rồi hy sinh. Hơn nửa thế kỷ qua sau cái chết của người chị ruột, gia đình cụ Trần Độ đã bỏ nhiều công sức và thời gian để tìm kiếm nhưng đều không có kết quả. Gần đây nhờ một số nhà ngoại cảm có tên tuổi trong nước nên công việc tìm kiếm đó đã thành công. Hài cốt người chị ruột đã tìm thấy ở một vùng ven đô thuộc quận Hai Bà Trưng - Hà Nội và sau đó đã được an táng chu đáo.

Điều đáng nói ở câu chuyện do đích thân Tướng Trần Độ thuật lại việc tìm mộ người chị ruột của mình là ở chỗ, Đảng và Nhà nước cùng bộ máy tuyên truyền hùng hậu bao năm qua đã ra sức phỉ báng, bôi nhọ, xuyên tạc đời sống tâm linh, sự mê tín phản khoa học của một bộ phận nhân dân... Và tự vỗ ngực xem mình là một nhà nước được xây dựng dựa trên một học thuyết khoa học, duy vật biện chứng Mác xít-chân lý của mọi thời đại, đỉnh cao trí tuệ của loài người vv... Bài bút ký kể lại chuyện tìm mộ do các nhà ngoại cảm hiện đang sống tại Việt Nam giúp đỡ gia đình ông được trình bày khá sinh động, lý giải chặt chẽ, xúc tích cũng là một minh chứng đánh gục những quan điểm duy ý chí và phản khoa học, phản động, phản cách mạng của một nền “chuyên chính vô học”, mang tầm văn hoá thấp.

Tôi trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc câu truyện này để tham khảo chung.
Hà Nội ngày 03/11/2001.
Cựu chiến binh Trần Minh Tâm
Phan Đình Phùng - Ba Đình - Hà Nội. 

                                    


                                                   ------------------------


Truyện thứ hai
Kỳ 8: 84 năm, hai thế hệ đi tìm mộ cha, ông



Bích Hằng đang trò chuyện với vong linh cụ Quyến



Sinh thời, Lương Ngọc Quyến có với người vợ thứ 2, bà Nguyễn Thị Hồng Đính, 3 mặt con: Lương Dân Nguyên, Lương Tân Khải và Lương Cao Vinh. Cả ba cậu con trai, bà Đính đều sinh hạ tại Trung Quốc. Năm 1917, sau khi Lương Ngọc Quyến hy sinh, bà gửi đứa con thứ 2 là Lương Tân Khải cho một phụ nữ Trung Quốc nuôi dùm rồi đưa 2 con Nguyên và Vinh về nước. Mất cha từ lúc tuổi còn thơ nhưng hình ảnh của cha với khí phách của một người anh hùng trọn đời hy sinh vì dân vì nước vẫn hiện hữu trọn vẹn, trở thành niềm tự hào trong tâm hồn hai cậu bé qua lời kể của mẹ. Sau này, trưởng thành, nỗi đau mất phần mộ cha trở thành nỗi ám ảnh, thôi thúc Nguyên và Vinh đi tìm. Nhưng hoàn cảnh thời ấy, chiến tranh thì liên miên, hết chống Pháp rồi đánh Mỹ, gia cảnh thì nghèo túng, Thái Nguyên thì mênh mông đồi núi, tin tức về cha gần như chẳng có, việc tìm mộ chẳng khác gì “mò kim đáy bể”. Năm 1967, ông Lương Cao Vinh lâm trọng bệnh mất. Gánh nặng tìm mộ cha dồn cả lên vai ông Nguyên. Năm lần bảy lượt đi tìm chẳng được. Năm 1993, tuổi cao sức yếu, ông Nguyên cũng ra đi. Trước khi mất, lời trăn trối cuối cùng với cậu con trai thứ Lương Quân vẫn là nỗi canh cánh trọn đời về phần mộ cha Lương Ngọc Quyến: “Con gắng thay cha tìm mộ ông. Bằng mọi cách phải tìm cho được. Bố linh cảm mộ ông được chôn gần một ngôi chùa nào đó trên Thái Nguyên”.
Thấu hiểu nỗi đau của cha. Nhưng biết tìm mộ ông ở đâu bây giờ? Năm 1994, qua báo chí, ông Quân biết đến khả năng tìm mộ đặc biệt của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Bấy giờ, tên tuổi của Bích Hằng đã vang dội cả nước qua hàng ngàn vụ tìm mộ, nhất là vụ tìm mộ tập thể 13 liệt sĩ ở Non Nước (Ninh Bình) và 5 mộ liệt sĩ ở Đông Triều (Quảng Ninh). Qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng dân tộc học, quãng giữa tháng 4 năm 1994, ông Quân tìm đến nhà riêng của Bích Hằng ở Khu tập thể binh đoàn 11 (Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội) cùng bức ảnh truyền thần của ông nội Lương Ngọc Quyến được vẽ lại từ bức ảnh chụp của Sở mật thám Pháp khi ông Quyến bị cầm tù. Bích Hằng, sau khi thắp hương mời vong cụ Quyến về, cho biết: hình ảnh cụ hiện lên rất mờ, thông tin nhận được rất ít. Cụ nói, mộ cụ vẫn còn nhưng cốt không còn nhiều, được chôn gần một ngôi chùa nào đó ở Vô Tranh, huyện Phú Lương hay Phú Bình gì đó. Địa điểm không rõ lắm nên gia đình cứ lên đó mà tìm, hy vọng sẽ có người biết mà chỉ dùm.
Vài ngày sau, ông Quân tìm đường lên Thái Nguyên. Xem bản đồ, chỉ có xã Vô Tranh thuộc huyện Phú Lương. Ông bèn nhờ người cậu ruột, nguyên là cán bộ quân khu Việt Bắc giới thiệu với ông trưởng thôn Thống Nhất, xã Vô Tranh dẫn đi tìm. Phú Lương ngày ấy rừng núi còn rậm rạp, hoang vu, nhà nọ cách nhà kia một quả đồi. Sục vào từng nhà, gặp gỡ các cụ cao niên trong làng để hỏi nhưng chẳng ai biết gì về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, huống hồ là thông tin về phần mộ cụ Lương Ngọc Quyến. Bác trưởng thôn đưa ông Quân đến hai ngôi chùa trong xã. Một ngôi có tên là chùa Lụa nằm trên một quả đồi nhưng đã đổ nát hoàn toàn, chỉ còn lại những hòn đá kê chân cột. Xung quanh là rừng nứa ngút ngàn. Dưới chân đồi có một gia đình người Thái Bình lên khai hoang lập nghiệp từ những năm 1950. Hỏi về cụ Quyến, họ lắc đầu nguây nguẩy không biết, lại còn nghi ngờ ông Quân đi tìm đồ cổ. Ngôi chùa thứ hai cũng toạ lạc trên một sườn đồi, bạt ngàn sắn. Ông trưởng thôn cho biết, ngôi chùa này đã bị cháy lâu lắm rồi, do Pháp đốt. Nền chùa chính là chỗ đã mọc lên cây ngái to cỡ một người ôm. Người chủ nương sắn đã đan một tấm liếp nhỏ, dưới đặt bát hương để cúng vái thần linh vào những ngày rằm, mồng một. Đến hai ngôi chùa, ông Quân đều thành tâm thắp hương cầu nguyện, đi xung quanh quan sát địa hình kỹ lưỡng, hy vọng tìm thấy một dấu hiệu nào đó nhưng vô vọng.
Trở về Hà Nội, ông gặp Bích Hằng, kể lại chuyện lên Thái Nguyên tìm mộ cụ Quyến. Bích Hằng khuyên ông nên nhẫn nại, kiên trì. Chị khẳng định mộ cụ còn nhưng hiện thời chị chỉ giúp được thế. Sau đó, ông Quân có đến gặp Bích Hằng vài lần nữa nhưng cùng không thu được thông tin gì mới. Cũng trong thời gian ấy, anh em ông Quân có nhờ một số nhà ngoại cảm tiếng tăm khác như ông Đỗ Bá Hiệp (Hà Nội), ông Tư Liên (Đà Nẵng)  nhưng sự việc cũng chẳng sáng sủa gì. Giữa lúc tưởng chừng bế tắc, không còn một tia hy vọng gì thì ông Quân bất ngờ nhận được tin nhắn của Bích Hằng: đã có thông tin về phần mộ cụ Lương Ngọc Quyến. Ngay lập tức, ông Quân cùng ông Cơ, người em con ông chú ruột, vội vã đến nhà Bích Hằng. Chị vui mừng thông báo: chị vừa lên xã Vô Tranh, huyện Phú Lương tìm mộ nhà báo Thôi Hữu, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong lúc “trò chuyện” với vong liệt sĩ Thôi Hữu, ông cho biết, quả đồi bên kia có mộ của người anh hùng Lương Ngọc Quyến. Rất tiếc, lúc đó trời đã sâm sẩm tối nên Bích Hằng không sang được.
Lần này, đến gặp Bích Hằng, ông Quân đã tháo bức ảnh cụ Lương Ngọc Quyến mà gia đình đã thờ phụng mấy chục năm nay. Bức ảnh này được chụp lại từ bức ảnh của Sở mật thám Pháp, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam. Khi nói chuyện với vong cụ Quyến, chị Hằng nói cụ hiện lên rất rõ, cằm vuông, mắt sáng, đặc biệt là thông tin về phần mộ cụ rất nhiều. Cụ chỉ dẫn: Đi qua cây cầu có tên Rùng Rình thì tạt vào bên phải đường. Qua một thửa ruộng, lên một quả đồi, trên đó có một ngôi nhà ngói. Phía đầu hồi nhà có một bụi tre, một chuồng nuôi gia súc, dưới chân đồi có một cái ao. Giữa bụi tre và ao là một cây bạch đàn lớn mới bị chặt, trên gốc cây vừa nhú lên hai mầm non. Cụ nằm dưới gốc cây bạch đàn ấy.



Bứng gốc cây bạch đàn 



8h ngày 23 tháng 12 năm 2001, chiếc xe Toyota 12 chỗ ngồi xuất phát từ Hà Nội đi Thái Nguyên. Đoàn đi bốc mộ gồm đông đảo con cháu cụ Lương Ngọc Quyến cùng nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và đại tá Hàn Thuỵ Vụ, Phó chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người). Trước khi đi, thực hiện đúng lời dặn của Bích Hằng, gia đình đã thắp hương trên bàn thờ gia tiên, trình bày toàn bộ sự việc, xin phép lên đón cụ Lương Ngọc Quyến về. Hành trình đi khá thuận lợi. Thông tin kiểm chứng đầu tiên là cây cầu Rùng Rình, vốn trước đó là một cây cầu tre, khi đi qua thì cầu rung rinh, nay mặc dầu đã được bê tông hoá kiên cố song dân địa phương vẫn gọi bằng tên cũ: cầu Rùng Rình. Vị trí hài cốt cụ Lương Ngọc Quyến cũng nhanh chóng được xác định, trùng khớp với những thông tin Bích Hằng cho từ Hà Nội: Nương chè, bụi tre, chuồng gia súc (gia chủ mới dỡ bỏ), ao, gốc cây bạch đàn có hai mầm tái sinh. Chủ của nương chè này là ông Bân, năm nay chừng 50 tuổi, quê gốc Thái Bình, lên đây khai hoang từ cuối những năm 1970. Trước đó hai ngày, ông Quân đã lên đây, trình bày nguyện vọng với UBND xã Vô Tranh và gia đình ông Ban, xin được giúp đỡ. Vì hài cốt của cụ Quyến nằm trên nương chè của ông Bân nên việc khai quật sẽ ảnh hưởng ít nhiều. Ông Bân bảo: “Việc gia đình tìm mộ là việc nghĩa nên cứ thoả mải tiến hành”. Tuy nhiên, buổi sáng hôm đoàn lên khai quật, trong khi bà vợ săng sái đi đun nước, thành kính giúp đoàn lập bàn thờ thắp hương vì tin tưởng vào chuyện tâm linh, vào khả năng tìm mộ đặc biệt của nhà ngoại cảm thì ông chồng cứ chắp tay sau hông đứng nhìn, cười khành khạch, cho đấy là chuyện hoang đường, mê tín dị đoan.
Trước khi khai quật, Bích Hằng thắp hương tại mộ, mời cụ Quyến lên trò chuyện. Điều bất ngờ đầu tiên là vong của cụ bà Nguyễn Thị Hồng Đính cùng các con: Nguyên, Vinh cũng lên theo. Cuộc trò chuyện kéo dài gần hai tiếng đồng hồ trong sụt sùi nước mắt và tiếng cười (đã được gia đình ghi âm và đại tá Hàn Thuỵ Vũ quay phim đầy đủ, nay chất lượng băng còn khá tốt – PV) với rất nhiều thông tin mà gia đình ông Quân, ông Cơ xác nhận sau này là chính xác đến… 100%. Điều ngạc nhiên là có nhiều chuyện rất bí mật, riêng tư, chỉ rất ít người trong gia đình biết mà Bích Hằng cứ nói… vanh vách, khiến cả nhà… choáng. Ví như vừa thấy Bích Hằng reo: “Cụ bà cũng về đấy” đã thấy cụ trách (qua nhà ngoại cảm): “Sáng nay chúng may thắp hương sao không hoá vàng?”. Mọi người hướng sang cô Dung, vợ chú Thắng (em trai ông Quân). Cô Dung bảo: “Trước khi đi, em đã dặn anh Thắng hoá rồi cơ mà?!”. Nói xong, cô rút máy điện thoại di động, điện về nhà. Chú Thắng giật mình bảo: “Chết thật! Sáng anh vội đi dạy học nên quên chưa hoá”. Một lát, cụ bà lại bảo: “Hôm qua, ở quê vui lắm. Xã được tuyên dương anh hùng. Bao nhiêu anh em họ hàng nhà mình đều được nêu danh”. Cả nhà ngớ người, nhớ ra hôm qua (ngày 22 tháng 12 năm 2001), xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình – quê của cụ bà Nguyễn Thị Hồng Đính, vừa tổ chức lễ đón nhận danh hiệu anh hùng thời kỳ chống Pháp. Trong danh sách các anh hùng liệt sĩ có công với nước, có rất nhiều người thân của bà: ông nội là Nguyễn Mậu Kiến (1819 – 1879), thủ lĩnh văn thân chống Pháp ở Thái Bình. Cha là chí sĩ Cần Vương và Duy Tân Nguyễn Hữu Cương (1855 – 1912), cùng đông đảo anh em, cháu, chắt của bà từng được ghi danh trong sách sử của tỉnh.
“Thằng Long đâu rồi, bốc mấy nắm đất trên mộ ông cho bố mày khỏi đau bụng”. Nghe cụ bà gọi, cả nhà lại giật mình. Long là con chú Thắng, mới học lớp một. Thắng bị bệnh thận phải mổ. Vết mổ gần chục năm rồi vẫn cứ rỉ nước vàng, người đau yếu rất khó chịu. Cháu Long vâng lời, làm đúng lời cụ dặn. Chừng một tuần sau, vết thương lành, đến tận những ngày này (tháng 10 năm 2006) vẫn chưa thấy hiện tượng gì, trong khi trước đó, Thắng chạy khắp các bệnh viện, gõ cửa nhiều giáo sư, bác sĩ, thầy lang mà không khỏi.
Bích Hằng reo: “Ông Nguyên cũng lên đây này”. Ông Nguyên là con cả của cụ Lương Ngọc Quyến. Ông Nguyên bảo: “Thằng Chính mua cho tao cái vé máy bay để tao vào Sài Gòn chơi”. Chính nghe vậy, bưng mặt khóc tu tu. Chính là con ông Vinh, cháu gọi ông Nguyên là bác ruột, hiện lập nghiệp trong Sài Gòn. Khi còn sống, ông Nguyên luôn muốn vào Sài Gòn chơi với họ hàng, bạn bè, con cháu. Nhưng vì ông to béo, lại già yếu, nhiều bệnh tật, chuyện sinh hoạt cá nhân còn không tự làm được thì đi làm sao? Có lần, ông bí mật mua vé máy bay định trốn vào Sài Gòn chơi, may con cháu phát hiện ra kịp thời ngăn cản. Anh Chính bảo: “Chuyện này chỉ những người thân trong gia đình tôi biết và đã xảy ra từ 20 năm trước, cô Hằng không thể biết được”. Anh Chính hỏi Bích Hằng: “Cô thấy ông Nguyên hình dáng thế nào?”. Bích Hằng cười, bảo: “Ông lão to lớn, râu dài bạc phơ, mắt lúc nào cũng cười”. Anh Chính xác nhận, rất đúng với vóc dáng và tính cách của ông Nguyên.
Cuộc gặp gỡ, trò chuyện kéo dài đến 12 giờ trưa. Cụ Lương Ngọc Quyến vội giục: “Các cháu mau căng bạt che nắng để chuẩn bị đào. Xương cốt ông còn rất ít. May ra có thể thấy cái cùm sắt vì khi giam ông, giặc Pháp đã cùm ông rất chặt, xiên cả dây thép qua chân nên không tháo ra được. Khi chôn, ông nằm nghiêng, chân co, lưng quay về chân đồi. Rễ cây bạch đàn ăn vào chân ông khiến ông rất đau. Chính ông làm cho nó chết. Lát nữa, có nhiều nghĩa quân khởi nghĩa năm xưa đến đây để tiễn đưa ông. Các cháu nhớ nấu cho ông nồi cháo to để ông chiêu đãi quân sĩ”.
Việc đầu tiên là phải bứng gốc cây bạch đàn có đường kính hơn 30cm lên. Khi gạt hết phần đất mượn do trong quá trình làm nương, chủ nhà đã san lấp bớt cho đỡ dốc, đến phần đất cũ độ 20cm, Bích Hằng gạt mọi người ra, bảo: “Sắp đến hài cốt của cụ rồi. Cháu phải trực tiếp xuống vì mọi người không biết đâu mà xác định. Cụ bảo: đầu cụ là chỗ chú Tiến đứng (Tiến là anh ruột ông Quân). Chân cụ là nơi chú Chính đứng”. Cả nhà lại một lần nữa bị bất ngờ vì trước đó, không ai nói tên Tiến và Chính cho Bích Hằng biết. Tiếp xúc với Hằng, từ trước đến nay chỉ có 3 người: ông Quân, ông Cơ và cô Phấn (em gái ông Cơ).



Từ trái qua phải: Ông Lương Cơ, Lương Quân, cô Lương Phấn


Sau khi gạt thêm một vài lớp đất mỏng, Bích Hằng reo khẽ: “Cốt cụ đây rồi”. Trăm con mắt đều nhìn xuống hố, thấy rõ hình hài một bộ xương người trong tư thế nằm nghiêng, chân co lại. Xương ống đùi, cẳng chân với các đầu xương phình to hằn rõ trên nền đất. Phần ngực có rất nhiều bột trăng trắng, trong khi xung quanh là đất đen pha đá dăm. Bích Hằng dặn: “Cốt cụ vì chôn quá lâu, lại chẳng có hòm ván gì cả nên tan ra hết. Cụ dặn các chú nhớ bốc những đất lẫn cốt đem về để táng”.


 Xương cốt cụ Quyến lẫn vào trong đất cát


Trong khi ông Quân, ông Cơ đang cặm cụi nhặt từng mẩu xương cùng đất vụn cho vào bọc vải đỏ thì trong sân, ông chủ nhà  mắt tái xanh, hốt hoảng chạy vào nhà thắp hương lạy như tế sao. Thấy lạ, chị Phấn mới kéo bà vợ ra hỏi nhỏ. Chị vợ cười, bảo: “Nhà em từ xưa đến nay không bao giờ tin vào chuyện vong hồn, thần thánh. Ngày hôm kia, khi bác Quân lên đây, có một đàn chim về rất đông, hót ríu ran trên bụi tre. Đêm qua, đột nhiên nhà em nằm mơ, thấy ở chỗ gốc cây bạch đàn có một vật đen tròn. Nhà em bèn vác cuốc ra cuốc hối hả chỗ ấy, rồi nghe thấy tiếng người bảo: ngày mai, con cháu tôi sẽ lên đón tôi về. Choàng tỉnh giấc, nhà em liền kể ngay với em song lại bảo: Chắc là tại ngày tôi nghĩ nhiều nên đêm mới mơ như vậy. Định bụng, cứ để mọi người xem thế nào. Nay, thấy mọi việc diễn ra đúng như trong mơ nên ông ấy mới sợ, vội vã thắp hương để tạ lỗi với cụ. Chứ từ ngày lấy nhà em, có bao giờ thấy ông ấy cúng vái bao giờ đâu”.
Sau khi công việc đã hoàn tất, nhìn sang quả đồi bên cạnh, cách chỗ vừa khai quật vài thửa ruộng, ông Quân thấy một tốp thợ đang đục đẽo gỗ để dựng nhà. Hỏi vợ anh Bân, được biết, thôn Thống Nhất đang dựng lại ngôi chùa trên nền cũ. Ông Quân cầm thẻ hương sang thì nhận ra, đó chính là ngôi chùa ông đã từng lên thắp hương, bát hương ngày ấy được đặt tạm lên cây ngái giữa bạt ngàn nương sắn. Ông chợt giật mình, nhớ lại cách đây 8 năm, Bích Hằng đã cho thông tin mộ cụ được đặt gần một ngôi chùa và băn khoăn không hiểu vì sao, trước khi mất, cha ông cũng dặn chắc như đinh đóng cột như thế?
Chi tiết cái cùm ở chân cụ Quyến, Bích Hằng nói “có thể còn” nhưng lúc đào lên không thấy. Tuy nhiên, tại khu vực phía chân cụ, mọi người thấy một vết đất vàng vàng như rỉ sắt. Có thể, trải qua hơn 80 năm mưa nắng, chiếc cùm sắt đã rỉ tiêu hết cả rồi?
Chiều ngày 23 tháng 12 năm 2001, tức mồng 9 tháng 11 năm Tân Tỵ, tại xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, lễ truy điệu và an táng nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến đã được Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc và nhân dân xã cùng các thế hệ con cháu nội ngoại của ông long trọng tiến hành. Trên bia mộ ông, trân trọng đề dòng chữ: “Cụ ông Lương Ngọc Quyến (1885 – 1917), lãnh tụ khởi nghĩa Thái Nguyên”. Bên cạnh là bia mộ của bà Nguyễn Thị Hồng Đính. Phía trên, giữa hai bia là phù điêu tạo hình lá quân kỳ nền đỏ năm sao trắng của Việt Nam quang phục quân.
Như vậy, trải qua 84 năm đằng đẵng, cả hai thế hệ con, cháu cất công tìm kiếm, di hài của người anh hùng Lương Ngọc Quyến đã được an nghỉ tại quê nhà. Người hạnh phúc nhất có lẽ là ông Lương Quân. Bởi việc tìm được phần mộ ông nội Lương Ngọc Quyến vừa là việc hiếu đễ với tổ tiên, vừa trút được nỗi canh cánh nặng trĩu trong lòng người cha thân yêu suốt một đời đau đáu. Duy có một điều làm ông còn day dứt, khiến niềm vui kia của ông chưa trọn vẹn. Đó là phần mộ của người anh hùng Đội Cấn, vị lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm xưa, người bạn chiến đấu của cụ Lương Ngọc Quyến vẫn còn vùi lấp đâu đó trên những đồi núi điệp trùng Thái Nguyên. Hôm lên Vô Tranh đưa hài cốt cụ Quyến về quê nhà, qua Bích Hằng, được biết cụ Đội Cấn có đến chia vui và tiễn biệt người bạn. Lúc đó, cụ Đội Cấn có nhắn qua Bích Hằng vị trí nơi chôn cất. Sau này, khi đài báo đưa tin đã tìm được mộ cụ Lương Ngọc Quyến, có một vị cao niên nhận là cháu cụ Đội Cấn, tìm về Nhị Khê thắp hương. Song rất tiếc, gia đình ông Lương Quân không được gặp và vị khách ấy cũng không để lại địa chỉ. Nay, qua Thế giới mới, anh em ông Lương Quân xin nhắn nhủ: nếu con cháu cụ Đội Cấn đọc được những thông tin này và muốn tìm hài cốt cụ, xin vui lòng liên lạc với ông theo địa chỉ: Lương Quân, số 9 Núi Trúc, quận Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 04.8464679.


Theo Hoàng Anh Sướng's webblog